Thứ tư, ngày 21 tháng 10 năm 2020
CHỌN NGÔN NGỮ:
Nội dung thảo luận Tọa đàm “Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương: Luận cứ khoa học và thực tiễn”
Ngày đăng: 23/09/2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU PHITRUNG ĐÔNG

 

 

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

 

 

MỘT SỐ NỘI DUNG CHUẨN BỊ CHO TỌA ĐÀM TẠI BẾN TRE

Do Viện Nghiên cứu CP&TĐ và Sở KH&ĐT Bến Tre đồng chủ trì

Bến Tre ngày 25/9/2020

 

Kính gửi: các ông (bà) tham dự buổi Toạ đàm

Để buổi Toạ đàm có chất lượng và hiệu quả, đem lại lợi ích nhiều mặt, trong đó có sự hợp tác, phối hợp giữa đơn vị nghiên cứu và các đơn vị triển khai (sở, ngành) của các địa phương, Ban tổ chức xin chuẩn bị và gửi đến quý vị phần (A) báo cáo đề dẫn tóm tắt và phần (B) một số vấn đề định hướng cho trao đổi, thảo luận trong Tọa đàm.

Kính đề nghị các ông (bà) nghiên cứu trước, có thể ghi tóm tắt các nội dung để tham gia phát biểu, đóng góp ý kiến tại Tọa đàm.

Ban tổ chức xin trân trọng cám ơn.

 

A. Báo cáo đề dẫn:

Tính đến tháng 5/2019, địa giới hành chính của Việt Nam được chia thành 63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương với 713 đơn vị hành chính, gồm: 73 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 thị xã, 49 quận và 544 huyện. 63 tỉnh/thành được chia thành 6 vùng kinh tế - xã hội, 4 vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế Hành lang Vịnh bắc Bộ, vùng Thủ đô, vùng kinh tế động lực. Trong bối cảnh phát triển mới của quốc tế, khu vực, trong nước, các địa phương Việt Nam đang phải đối mặt với các thách thức từ bên ngoài và bên trong, với các áp lực của mục tiêu phát triển “nhanh”, “bền vững”, “bao trùm”, “hội nhập” kinh tế - xã hội ở các địa phương là rất lớn.

Thứ nhất, các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội mà tất cả các địa phương đang đặt ra đòi hỏi phải có những giải pháp thực hiện tổng thể, hệ thống, trong khi đó các địa phương lại đang thiếu các luận cứ khoa học chắc chắn để giúp có các giải pháp tổng thể và hệ thống. Có tình trạng này là do năng lực nghiên cứu của địa phương còn nhiều hạn chế cả về nguồn nhân lực và tài lực, nhất là những tỉnh ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Thêm vào đó, đang thiếu các mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu tư vấn chính sách, cả trong nước và quốc tế, và các địa phương cũng như đang thiếu các cơ chế liên kết chia sẻ kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Thứ hai, do sức ép về đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, các địa phương hiện nay đang lúng túng trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu “bền vững, “bao trùm” nhằm giải quyết được các vấn đề về xã hội và môi trường. Nguyên nhân của tình trạng này là các tỉnh và địa phương bắt đầu quá trình phát triển ở mức thấp, mong muốn có mức tăng trưởng kinh tế cao để có các tiền đề giải quyết các vấn đề khác về xã hội và môi trường. Do vậy, tư duy kinh tế đi trước, mở đường cho xã hội và môi trường đi sau là khá phổ biến và vì thế thường các giải pháp đảm bảo tăng trưởng cao”, “tăng trưởng nhanh” được chú trọng, trong khi các vấn đề khác tổng hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội thì ít được chú ý. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đang thiếu các giải pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề xuống cấp của văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái ở các địa phương.

Thứ ba, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường thường là vấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ của một tỉnh, mà thay vào đó là vấn đề có tính vùng hay lưu vực của một con sông hay một vùng ven biển, do đó việc phối hợp và hợp tác để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường ở cấp vùng là rất cần thiết. Trong khi đó, hoạt động hợp tác giữa các cơ quan Trung ương và các địa phương cũng như giữa các địa phương với các địa phương trong việc đưa ra các giải pháp về kinh tế, xã hội,môi trường đảm bảo cho phát triển kinh tế - xã hội ở cấp độ vùng vẫn còn nhiều hạn chế. Những hạn chế và tồn tại này xuất phát từ việcchưa có cơ chế phối hợp hữu hiệu trong đó xác định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan trong việc tham gia giải quyết các vấn đề mang tính liên ngành, liên vùng.

Thứ tư, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, các địa phương có những đặc thù sẽ có những lợi thế so sánh như du lịch, cây trồng vật nuôi đặc sản, ngành nghề thủ công truyền thống... Tuy nhiên một thách thức lớn là làm thế nào để xác định các tiềm năng lợi thế đó để tham gia “hội nhập chủ động”, để có thể phát huy ở thị trường nào trên qui mô toàn cầu hay trong nước, các yếu tố ảnh hưởng đến các tiềm năng lợi thế đó là gì là chưa thật rõ. Các giải pháp để khắc phục tình trạng đó là rất cần nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc để có những giải pháp phù hợp và hiệu quả.

Thứ năm, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại, các công ty đa quốc gia sẽ tìm kiếm cơ hội cắt giảm chi phí cho môi trường thông qua xu hướng xuất khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển dưới hình thức FDI. Vấn đề này đã từng được nhiều chuyên gia cảnh báo rằng sẽ ngày càng gia tăng và các địa phương có nguy cơ trở thành một trong những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao bởi các tiêu chuẩn về môi trường còn thấp. Với việc cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) đã được phân cấp mạnh về các tỉnh và không ít tỉnh đã chạy theo tốc độ tăng trưởng GDP cao và chấp nhận các dự án FDI khai thác tài nguyên giá rẻ, với công nghệ lạc hậu, thiếu kiểm soát việc nhập khẩu hàng hoá, vật tư, công nghệ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, bị người dân phản ứng mạnh mẽ. Do vậy vấn đề “tăng trưởng và phát triển” cần được làm rõ, các mục tiêu “tăng trưởng nhanh” cần được đặt trong một chiến lược phát triển tổng thể, “bền vững”, “bao trùm”.

Thứ sáu, tự do hoá thương mại, phát triển thị trường các yếu tố sản xuất và sản phẩm thúc đẩy sự phát triển nhiều sản phảm, nhiều loại hình dịch vụ, làm thay đổi cách thức tiêu dùng của dân cư. Sự phát triển này có tác động lớn đến cuộc sống, phong cách tiêu dùng, văn hóa sinh hoạt của người dân ở địa phương. Tâm lý, văn hóa địa phương, các giá trị truyền thống, phong tục tập quán của các dân tộc…ở các địa phương bị tác động không nhỏ vì quá trình này. Do vậy, đồng thời với các giải giải pháp chiến lược tăng trưởng và phát triển, cần có các giải pháp để bảo tồn những yếu tố văn hóa, xã hội có tính tích cực, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến thiên nhiên, văn hoá truyền thống, bảo tồn di sản, bản sắc địa phương, vùng miền.

Thứ bảy, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, các địa phương phải đối mặt với các tác động biến đổi nhanh, khó hoặc không thể dự báo trước như thiên tai, hạn hán, bão lụt, bệnh dịch. Đại dịch Covid-19 đã có những tác động tác hại mang tính toàn cầu, ảnh hướng đến từng quốc gia, địa phương, lĩnh vực, ngành nghề, và từng hộ gia đình. Đại dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực khiến cho quốc gia và địa phương phải xem xét điều chỉnh lại các kế hoạch tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Sự đứt gãy của các chuỗi cung ứng toàn cầu, khu vực, quốc gia đã buộc các địa phương phải có những cách tiếp cận mới, biện pháp, thậm chí có những quan điểm mới mới trong đảm bảo sản xuất kinh doanh, ổn định chính trị - xã hội. Từ đó, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần đặt ra các kịch bản khác nhau trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển nhanh và khó đoán định, có các phương án dự phòng để hạn chế đến mức thấp nhất các ảnh hưởng tiêu cực trước các tác động không mong đợi.

Với những thách thức như trên, có thể thấy rất cần thiết phải có các nghiên cứu khoa học, kết hợp nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, nhằm cung cấp các luận cứ khoa học xác đáng để các địa phương xây dựng và triển khai thành công các chiến lược 10 năm và kế hoạch 5 năm về phát triển kinh tế - xã hội.

B. Một số vấn đề định hướng thảo luận

1)      Các yếu tố chính ảnh hưởng tới xây dựng Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương có đầy đủ các thuộc tính “nhanh”, “bền vững”, “bao trùm”, “hội nhập”?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2)      Cách đo lường việc thực thi Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo các tiêu chí “nhanh”, “bền vững”, “bao trùm”, “hội nhập”?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3)      Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội của Bến Tre giai đoạn 2021-2030?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4)      Các lợi thế so sánh của tỉnh trong bối cảnh mới với nhiều yếu tố mới xuất hiện. Xác định các điểm nghẽn, hạn chế, nguyên nhân sâu xa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5)      Một số giải pháp và khuyến nghị chính sách cho Bến Tre trong xây dựng Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương giai đoạn 2021-2030?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6)      Do tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các địa phương. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, tình hình phát triển kinh tế - xã hội có những chuyển biến và kết quả như thế nào, xin ông (bà) cho biết?

 

 

 

 

 

 

7)      Theo ông (bà) đâu là những nguyên nhân và động lực giúp Bến Tre đạt được những kết quả vừa nêu?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8)      Các phân tích về kinh tế cho thấy trong thời gian tới nền kinh tế sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro, áp lực về việc làm sao để vừa đảm bảo phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an sinh xã hội. Theo ông (bà), trong thời gian tới, tỉnh Bến Tre sẽ có các giải pháp gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9)      Một số vấn đề khác: