Thứ năm, ngày 22 tháng 08 năm 2019
CHỌN NGÔN NGỮ:
Tài nguyên nước cho tăng trưởng và phát triển kinh tế: Nghiên cứu trường hợp Israel, Ai Cập, Zimbabwe và Việt Nam
Ngày đăng: 12/07/2019

Cuốn sách Tài nguyên nước cho tăng trưởng và phát triển kinh tế: nghiên cứu trường hợp Israel, Ai Cập, Zimbabwe và Việt Nam của PGS.TS. Bùi Nhật Quang và PGS.TS. Trần Thị Lan Hương (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), xuất bản năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội là một cuốn sách chuyên khảo bổ ích cung cấp cho độc giả cách nhìn mới khi tiếp cận, nghiên cứu về nước dưới góc độ kinh tế học.

Trong thời gian gần đây, hiện tượng biến đổi khí hậu trở thành mối quan tâm toàn cầu. Vấn đề này làm nảy sinh câu hỏi: sự ấm lên của trái đất có ảnh hưởng như thế nào đến nguồn nước ngọt trên toàn cầu, từ đó tác động ra sao đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới. Mặc dù nước là một nguồn tài nguyên quan trọng, nhưng cách tiếp cận nghiên cứu về nước từ trước tới nay thường chủ yếu tập trung dưới góc độ an ninh và xã hội. Dưới góc độ kinh tế, nước chưa được nhìn nhận, đánh giá đầy đủ vai trò và tác động của nó đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Bài toán kinh tế về nước còn để ngỏ, và nếu không giải quyết tốt bài toán về nước sẽ dẫn đến những vấn đề nan giải khác về xã hội, an ninh, xung đột chính trị. Cách tiếp cận về nước dưới góc độ kinh tế học là cách tiếp cận mới, đang tạo ra những quan điểm tranh luận rất khác nhau và chưa thống nhất trên thế giới. Tác động của nước đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cũng rất đa chiều. Nước vừa là yếu tố đầu vào cho hầu hết các ngành sản xuất, khiến hệ thống kinh tế vận hành thông suốt và hiệu quả. Mặt khác, nước cũng là một lực lượng kinh tế mang tính hủy hoại, có thể mang lại thảm họa cho con người thông qua lũ lụt, hạn hán, sa mạc hóa, bệnh tật..., có thể gây ra đình trệ kinh tế và đói nghèo. Nước còn là lực lượng gây ra tranh chấp, xung đột giữa các nhóm người sử dụng, giữa các quốc gia, gây mất an ninh kinh tế - chính trị - xã hội nghiêm trọng, từ đó khiến kinh tế phát triển đình đốn.

Nói đến khu vực châu Phi và Trung Đông, người ta thường liên tưởng đến một khu vực sa mạc cằn cỗi, khô hạn và thiếu nước trầm trọng. Khan hiếm nước đã khiến nhiều quốc gia trong khu vực này luôn phải sống trong đói nghèo, bệnh tật, kinh tế kém phát triển và nước đôi khi còn gây ra các cuộc chiến tranh, xung đột giữa các quốc gia, các bộ tộc cùng chia sẻ nguồn lợi về nước. Phần lớn các quốc gia châu Phi và Trung Đông đều không coi nước là một hàng hóa kinh tế, mặc dù đối với họ nguồn nước là vàng xanh, là một thứ tài sản vô cùng quý giá. Tuy nhiên, cũng có các quốc gia đã thực sự tiếp cận nước dưới góc độ kinh tế, thừa nhận nước là một hàng hóa kinh tế, xây dựng nền kinh tế nước vận hành theo các nguyên tắc của thị trường, từ đó nước đã có những đóng góp tích cực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - điển hình là Israel. Cũng có những quốc gia phải chia sẻ quyền lợi và nghĩa vụ với một dòng sông quốc tế, đó là Ai Cập nằm ở hạ lưu sông Nile, mỗi năm chỉ được cấp hạn ngạch 55,5 tỷ m3 nước từ dòng sông Nile không hơn không kém để phát triển kinh tế. Quốc gia này đã có những chiến lược gìn giữ nguồn nước theo cách riêng của mình để phát triển kinh tế và cũng tránh được những tác hại rủi ro do thiếu nước gây ra. Cũng có những quốc gia được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn nước dồi dào phong phú, điển hình là Zimbabwe, nhưng quốc gia này đã không biết gìn giữ nguồn tài nguyên quý giá, và dưới góc độ kinh tế học, Zimbabwe luôn ở trong vòng luẩn quẩn: đói nghèo - kém đầu tư cơ sở hạ tầng nguồn nước - gặp rủi ro từ nguồn nước - tăng trưởng kinh tế trì trệ - đói nghèo hơn. Mỗi quốc gia được nhắc đến trong cuốn sách này là một mô hình kinh tế đặc biệt, trong đó tài nguyên nước có ảnh hưởng quan trọng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nhiều thập niên qua.

Mục tiêu của cuốn sách là xây dựng cơ sở lý thuyết về tài nguyên nước dưới góc độ kinh tế học, tìm hiểu kinh nghiệm thực tế của một số nước châu Phi - Trung Đông như Israel, Ai Cập, Zimbabwe trong việc sử dụng tài nguyên nước cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng diễn biến phức tạp, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam tăng nhanh, phát triển dân số, ô nhiễm môi trường, nguồn nước ngọt bị chi phối và ràng buộc rất lớn với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, thì việc nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về tài nguyên nước sẽ đem lại cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong phương thức và thái độ sử dụng nước hiệu quả phục vụ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Về nội dung, ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, cuốn sách gồm 6 chương:

Chương 1: Tài nguyên nước cho tăng trưởng kinh tế: tiếp cận dưới góc độ kinh tế học.

Chương này bao gồm 4 mục với các nội dung: những khái niệm cơ bản; đặc điểm kinh tế của tài nguyên nước; đónga góp của tài nguyên nước cho tăng trưởng kinh tế; một số vấn đề về quan điểm nghiên cứu.

Chương 2: Châu Phi – Trung Đông: Mối liên hệ giữa tài nguyên nước, đói nghèo, xung đột và phát triển kinh tế.

Chương này tiến hành phân tích những đặc trưng và thách thức của nguồn tài nguyên nước khu vực châu Phi – Trung Đông, đánh giá mối quan hệ giữa tài nguyên nước với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở ba quốc gia điển hinhd trong châu lục này với ba trạng thái khác nhau: Israel: rất khan hiếm nước, vì vậy nước ngay từ đầu đã được xem là một hàng hóa kinh tế, chính phủ đầu tư nguồn nước hiệu quả và tác động của nước đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế rất tích cực. Ai Cập: thừa hưởng hạ lưu sông Nile, là nước tương đối khan hiếm nước (so với thế giới), nhưng tương đối đầy đủ nước (so với các nước Bắc Phi) và nước được coi là hang hóa ngay từ đầu, chính phủ tập trung đầu tư nguồn nước cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mức trung bình. Zimbabwe: dư thừa nước so với các nước châu Phi khác, nhưng nước không được coi là nguồn tài nguyên cần được bảo vệ và đầu tư khai thác hiệu quả. Do vậy, tác động của nước đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mức thấp.

Chương 3: Israel: vàng trắng và sa mạc nở hoa.

Israel nằm ở khu vực Trung Đông, rất khan hiếm nước do phần lớn đất đai là sa mạc, đồng thời có xung đột kéo dài trong lịch sử và hiện tại với các quốc gia Arab láng giềng. Trong luật pháp Israel, tài nguyên nước được xem là nguồn tài nguyên quý hiếm, là tài sản quốc gia và được pháp luật bảo vệ. trong mấy thập niên qua kể từ khi hình thành nhà nước, Israel đã khắc phục hiệu quả sự khan hiếm nước kéo dài, áp dụng công nghệ cao trong khai thác nguồn tài nguyên này để phục vụ hiệu quả cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Chương 4: Ai Cập – huyền thoại kinh tế trên dòng sông Nile.

Ai Cập nằm ở khu vực Bắc Phi, phần lớn lãnh thổ là sa mạc và bán sa mạc, được thừa hưởng nguồn nước ở hạ lưu sông Nile và cũng luôn phải chịu những áp lực về sự khan hiếm nước. người dân Ai Cập coi song Nile là con mắt của minh bởi nó cung cấp tới 88,3% nhu cầu nước sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất. Nước thực sự là nguồn tài nguyên quý giá, được Ai Cập bảo vệ nghiêm ngặt trong suốt nhiều thập kỷ qua.

 Chương 5: Zimbabwe: quốc gia khát và những cơn đại hồng thủy.

Zimbabwe được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn tài nguyên nước, nhưng chính phủ Zimbabwe không đảm bảo được nguồn cung cấp nước cho phát triển nông nghiệp, tiêu dung nước sạch ở các vùng nông thôn và đô thị, điều đó đã tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Zimbabwe. Những sai lầm trong quản lý đất đai và nguồn nước, cộng them việc không coi trọng nước là nguồn tài nguyên quý giá ở tại quốc gia lấy nông nghiệp làm chủ đạo đã khiến Zimbabwe phải chịu nhiều cuộc khủng hoảng lương thực, khủng hoảng kinh tế.

Chương 6: Tài nguyên nước ở Việt Nam và bài học từ Israel, Ai Cập, Zimbabwe.

Chương này tiến hành phân tích các nội dung như: Tài nguyên nước ở Việt Nam; Chính sách khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước ở Việt Nam; Tài nguyên nước cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam: một số vấn đề đặt ra; Bài học kinh nghiệm từ các nước châu Phi – Trung Đông; Kiến nghị chính sách cho Việt Nam.


Tổng hợp: Th.S Lê Bích Ngọc

Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, số 5/2019