Chủ nhật, ngày 16 tháng 12 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Khủng hoảng chính trị tại Libya và những tác động đến Việt Nam - Phần 1
Ngày đăng: 24/07/2012

PGS.TS. Bùi Nhật Quang - TS. Trần Thị Lan Hương

Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông


Trước khi diễn ra những bất ổn chính trị, Libya được đánh giá là một trong những nước ổn định nhất khu vực Bắc Phi và Trung Đông với thu nhập bình quân đầu người tương đối cao - hoảng 13.000 USD/năm, có chỉ số phát triển con người (HDI) đứng hạng thứ 53 trên thế giới (2009), tỷ lệ người nghèo tuyệt đối rất thấp so với các nước Arab láng giềng, đồng thời có một chế độ chính trị ổn định không có phe chống đối. Trong nhiều thập kỷ, Libya được đánh giá cao nhất trong số các nước châu Phi và đứng thứ 5 ở Trung Đông và Bắc Phi sau UAE, Qatar, Bahrain, Kuwait về trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Cuộc khủng hoảng chính trị tại Libya và cái chết của nhà lãnh đạo Gaddafi vào cuối năm 2011 cho thấy Cuộc cách mạng Hoa Nhài có sức lan tỏa khủng khiếp, đẩy Libya rơi vào thảm kịch đẫm máu. Câu hỏi đặt ra là: khủng hoảng chính trị tại Libya có những điểm tương đồng và khác biệt gì đối với các cuộc cách mạng đang diễn ra tại Ai Cập, Tunisia, Bahrain, Yemen, Sirya và nhiều nước Bắc Phi – Trung Đông khác? Tương lai của Libya hậu Gaddafi ra sao và cuộc khủng hoảng này có tác động gì đối với Việt  Nam?

1.     Một số đánh giá về khủng hoảng chính trị tại Libya

-         Diễn biến khủng hoảng tại Libya:

Cuộc khủng hoảng chính trị ở Libya bắt đầu từ ngày 15 tháng 2 năm 2011 khi những người biểu tình tại miền Đông Libya đứng lên đòi lt đổ chế độ Gaddafi. Ngày 17/3/2011, Nghị quyết 1973 đã được NATO thông qua, yêu cầu áp dụng vùng cấm bay trên không phận Libya. Một tuần sau đó, Hội đồng chuyển giao quốc gia Libya (NTC) đã được phe nổi dậy Libya thành lập, được các nước Liên đoàn Arab và nhiều thành viên NATO thừa nhận. Liên tục những tháng sau đó, phe đối lập đã đánh chiếm nhiều thành phố quan trọng ở Libya. Ngày 23/8/2011 dưới sự yểm trợ của không quân NATO, phe nổi dậy đã đánh chiếm căn cứ Bab al-Aziziya, tiến vào thủ đô Tripoli. Ngày 16/9/2011 Liên hiệp quốc công nhận Hội đồng chuyển giao quốc gia Libya (NTC). Vào ngày 20/10/2011, phe nổi dậy giải phóng thành phố Sirte – thành trì kháng cự cuối cùng của lực lượng trung thành với ông Gaddfi, bắt và giết chết nhà lãnh đạo Gaddafi sau 42 năm cầm quyền. Hiện nay, Libya đang nỗ lực tái thiết lại đất nước thời hậu chiến và tích cực chuẩn bị cho kỳ bầu cử quốc hội dự kiến thực hiện vào tháng 6/2012.

- Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng:

Cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội ở Libya có những nguyên nhân tương đồng với các cuộc cách mạng Arab diễn ra tại Ai Cập, Tunisia, Yemen, Syria, v.v... đó là: tất cả các nước này đều duy trì chế độ độc tài quá lâu, do đó dẫn đến tham nhũng trầm trọng, người lao động bị gạt ra ngoài lề những thành quả phát triển của đất nước, nghèo đói, thất học, thất nghiệp ở mức cao. Chỉ số tham nhũng năm 2010 ở Libya và Yemen do Tổ chức Minh bạch quốc tế xếp hạng là 2,2, đứng thứ 146/178 nước trên thế giới, Syria là 2,5 (hạng 127/178), Ai Cập là 3,1 (hạng 98/178) và Tunisia là 4,3(hạng 59/178). Hơn thế, xã hội ngày càng phát triển khiến nhiều người dân có cơ hội tiếp cận internet và các mạng xã hội như Facebook, Twitter, dễ dàng sử dụng các công cụ này một cách hiệu quả để tổ chức, huy động và phối hợp khi biểu tình.

Sự sụp đổ của chính quyền Gaddafi có những nguyên nhân khác biệt quan trọng đối với phong trào Mùa xuân Arab diễn ra tại các nước láng giềng. Thứ nhất, Libya là một đất nước rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên và được đánh giá là một đất nước giàu có và phát triển hơn hẳn các nước láng giềng như Ai Cập, Syria, Tunisia và Yemen. Đây là đất nước có trữ lượng dầu mỏ và khí ga lớn nhất châu Phi (vượt Nigeria) và đứng thứ 9 trên thế giới, là nước chuyên sản xuất dầu nhẹ, ngọt – tức là dầu mó có chất lượng thuộc loại tốt nhất trên thế giới. Những mỏ dầu ở vùng sa mạc có thể khai thác dễ dàng và cũng rất dễ dàng lọc thành dầu diesel và xăng có hàm lượng lưu huỳnh thấp, ít gây ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày, Libya xuất khẩu 1,3 triệu thùng dầu, và 85% xuất khẩu dầu mỏ của Libya là sang thị trường EU. Dầu mỏ tạo ra hơn 90% thu nhập cho người dân Libya.

Hình 1: Các nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất châu Phi năm 2011


Hình 2: Bản đồ dầu mỏ Libya


Nguồn: IEA 21 Feb 2011

Một điều quan trọng là dầu mỏ ở Libya hầu hết được phân bố ở miền Đông của đất nước (xem bản đồ), trong khi thủ đô của Libya là Tripoli lại nằm ở phía Tây Bắc. Vào tháng 1 năm 2011 trước khi xảy ra những biến động to lớn ở Libya, miền Đông Libya chiếm tới 65% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Libya, còn lại là các mỏ dầu nằm rải rác ở miền Tây Libya (chiếm 13%) và các vùng khác (22%). Các tập đoàn khai thác dầu khí lớn của Libya hầu hết đều có trụ sở ở miền Đông. Khu vực miền Đông  này là nơi cư trú của bộ lạc Warflah (hơn 1 triệu dân trong số 6,5 triệu dân Libya) và một số bộ lạc nhỏ khác. Tuy là bộ lạc đông dân nhất đất nước, và miền Đông là nơi có nhiều giếng dầu, khí đốt và hải cảng xuất khẩu lớn nhất, nhưng khu vực này lại không được chính quyền Gaddafi dành cho các lợi ích  tương xứng với những đóng góp thực tế. Nhiều người của bộ lạc Warflah đã gia nhập quân nổi dậy vốn cư trú tản mát trong các bộ lạc nhỏ tại miền Đông. Như vậy, có thể thấy chế độ Gaddafi sụp đổ trước hết bắt nguồn từ sự phân chia ranh giới địa lý tương đối biệt lập giữa miền Đông và miền Tây, trong đó miền Đông là nơi nắm giữ hầu hết nguồn tài nguyên của đất nước và miền Tây là nơi tập trung phần lớn tài sản và phúc lợi quốc gia, khiến nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh nhằm phân chia lại lợi ích giữa các nhóm bộ lạc luôn tiềm ẩn tại đất nước có nền chính trị ổn định hơn 40 năm qua.

Thứ hai, biến động chính trị - xã hội tại Libya đi theo một hướng khác với các nước Arab láng giềng. Khác với các cuộc nổi dậy của cộng đồng người Arab ở các nước Ai Cập, Tunisia, Yemen bắt nguồn từ tầng lớp trí thức và  người dân lao động, cuộc nổi dậy ở Libya bắt nguồn từ những mâu thuẫn bộ lạc. Dân chúng các nước như Tunisia, Ai Cập, Yemen đứng lên đòi tự do, dân chủ, cơm ăn áo mặc và việc làm. Còn các bộ lạc ở Libya đứng lên đòi phân chia quyền lợi cho bộ lạc. Hay nói cách khác, ở Libya không tồn tại xã hội dân sự, đảng phái chính trị, công đoàn, các tổ chức dân sự khác như Ai Cập và Tunisia. Tại Libya ước tính có khoảng 140 bộ lạc lớn nhỏ khác nhau, trong đó có 4 bộ lạc lớn là Gadhadhfa, Warfalla, Magarha và Firjan chiếm tới 85% dân số Libya. Cựu tổng thống Gaddafi là người thuộc bộ lạc Gadhadhfa. Về vị trí lãnh thổ, các bộ lạc sinh sống biệt lập và mọi công việc của bộ lạc đều do tộc trưởng và những người đứng đầu bộ lạc quyết định. Chính quyền Gaddafi tồn tại được hơn 40 năm qua là do biết dung hòa lợi ích của các nhóm bộ lạc, đặc biệt là những bộ lạc lớn. Tuy nhiên, có một số tộc trưởng của các bộ lạc nhỏ nằm ở miền Đông Libya điển hình như bộ lạc Hasawna, bộ lạc Zweia là nơi tập trung nhiều phiến quân phản đối chính sách phân chia phúc lợi xã hội không đồng đều của chính quyền Gaddafi. Khi biến động xảy ra ở một số quốc gia láng giềng, phiến quân của các bộ lạc nhỏ này đã đứng lên kêu gọi chống lại chế độ Gaddafi và được sự hưởng ứng của những người lãnh đạo các bộ lạc lớn như Warfalla, Magarha cũng đang sinh sống ở miền Đông. Chính quyền của Gaddafi không đi theo một định chế chính trị theo khuôn mẫu nào do phương Tây áp đặt, mà chủ yếu dựa trên liên minh giữa các bộ lạc, trong đó các tộc trưởng bộ lạc (Sheikh) giữ vai trò thống nhất nội bộ và giữa các bộ lạc với nhau. Cơ chế tam quyền phân lập được hình thành ở đất nước này, nhưng trên thực tế chính quyền vẫn là sự liên minh giữa 3 bộ lạc lớn nhất là Gadhadhfa, Warfalla, Magarha. Khi mâu thuẫn lợi ích giữa ba bộ lạc lớn nhất xảy ra, nhiều tộc trưởng đã đi theo quân nổi dậy chống lại chính phủ.

Thứ ba, Libya là một đất nước Hồi giáo thống nhất với 99% người dân theo Hồi giáo dòng Sunni. Như vậy có thể thấy người Hồi giáo ở Libya không bị phân chia thành các dòng giáo phái khác nhau để có thể tồn tại mâu thuẫn như ở các nước láng giềng. Chẳng hạn, tại Ai Cập, mâu thuẫn xã hội còn nảy sinh do có sự xung đột lợi ích giữa người Hồi giáo dòng Sunni, các nhóm Hồi giáo thiểu số và người Kito giáo; hoặc tại Syria tồn tại mâu thuẫn lợi ích giữa người Hồi giáo dòng Sunni, Hồi giáo dòng Shiite và người Alawite khi cộng đồng thuộc nhóm tôn giáo thiểu số Alawite chỉ chiếm tới 8-10% dân số, trong đó có tổng thống Assad, là nhóm lãnh đạo đất nước, chi phối cả lực lượng quân đội và an ninh; trong khi đa số dân số Syria là người đạo Hồi giáo dòng Sunni ngày càng bất mãn với chính phủ của Assad. Hơn nữa, các phong trào Hồi giáo cực đoan và mạng lưới Al-Qaeda không tồn tại ở Libya trong khi các nước khác lại có những tổ chức Hồi giáo mang tính chất chống đối chính phủ, chẳng hạn ở Ai Cập có Tổ chức Anh em Hồi giáo, Tunissi tồn tại mạng lưới Al-Qeada ở khu vực Maghreb Hồi giáo, hoặc ở Yemen tồn tại mạng lưới Al-Qeada ở bán đảo Arab. Như vậy có thể thấy mức độ đồng nhất hóa sắc tộc và tôn giáo giữa các bộ lạc ở Libya mạnh hơn nhiều so với các nước khác. Tuy nhiên, Gaddafi đã xây dựng bộ máy quân sự của mình không dựa theo hệ thống gia đình như các nước Arab khác đã làm, mà chủ yếu đưa các tộc trưởng bộ lạc trở thành tướng lĩnh trong quân đội. Những bộ lạc nhỏ hơn sẽ được cung cấp vũ khí đạn dược ít hơn, lạc hậu hơn. Trong khi đó, các nước như Ai Cập, Tunisia và Syria xây dựng quân đội mang tính chất chuyên nghiệp hóa và có tổ chức, các tướng lĩnh và binh sĩ trong quân đội được xây dựng trên một nguyên tắc thống nhất để hạn chế lòng trung thành của mỗi sĩ quan quân đội đối với từng đơn vị cộng đồng nhỏ của riêng họ. Vì vậy, khi biến cố xảy ra, chính quyền Libya nổ sung vào lực lượng chống đối, ngay lập tức các tướng lĩnh quân đội ở Libya muốn đứng vào hàng ngũ quân nổi dậy để kêu gọi chính phủ tự do hóa hệ thống chính trị giống như Ai Cập và Tunisia vừa mới làm.

Thứ tư, kết cục khủng hoảng chính trị ở Libya là cuộc nội chiến đẫm máu và cái chết của nhà lãnh đạo Gaddafi. Khác với chính quyền Tunisia và Ai Cập, sau khi dân chúng biểu tình chống chính phủ, tổng thống al-Abidine Ben Ali của Tunisia và tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập đã nhanh chóng từ chức, còn ở Libya, Đại tá Gaddafi tuyên bố sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ ngôi vị. Lý do là Ai Cập và Tunisia đều là những đất nước thân phương Tây và Mỹ, quyền lực của tổng thống được củng cố qua các lần trưng cầu dân ý, sửa đổi hiến pháp, phát triển xã hội dân chủ tự do, chú trọng phát triển giáo dục. Để củng cố cho quyền lực đó, các nguyên thủ quốc gia ở Ai Cập và Tunisia đã được Mỹ và các nước phương Tây bảo trợ rất nhiều. Từ năm 1979, sau khi ký Hiệp định hòa bình với Israel, Ai Cập đã được Mỹ đã cung cấp tới 1,3 tỷ USD viện trợ quân sự để đảm bảo an ninh và hòa bình giữa hai nước[1]. Ảnh hưởng của Mỹ đối với chính phủ Ai Cập là rất lớn. Tại Tunisia, Mỹ và phương Tây luôn ủng hộ chính phủ của ông Ben Ali vì đã giúp Mỹ và phương Tây ngăn chặn tốt làn sóng Hồi giáo cực đoan đang lan rộng.  Khi biến động xảy ra, sự can thiệp khéo léo của Mỹ sẽ là để ông Mubarak và ông Ali ra đi một cách nhanh chóng, ổn định tình hình, chuyển đổi xã hội Ai Cập và Tunisia trong trật tự và trong mối quan hệ có lợi cho Israel cũng như có lợi cho các nước Mỹ và phương Tây trong cuộc chiến chống khủng bố. Vì vậy, lực lượng quân đội Ai Cập, Tunisia và lực lượng quân đội của Mỹ và các nước phương tây có xu hướng gắn kết xã hội hơn là một thế lực đàn áp, vì những mục tiêu lâu dài hơn cho cả hai phía.

Còn Libya là nước không có sự thân thiết với phương Tây và Mỹ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, vì vậy sự can thiệp từ bên ngoài để giúp quân đội làm một cuộc đảo chính ở Libya giống như Ai Cập và Tunisia là điều không thể. Hơn nữa, Gaddafi là tiền đồn cứng rắn nhất ngăn cản sự truyền bá dân chủ phương Tây tại Trung Đông – Bắc Phi, do vậy tiêu diệt Gaddafi là mục đích các nước phương Tây hướng tới để nhằm chi phối quốc gia này và đạt được các lợi ích cả chính trị lẫn kinh tế. Chính vì vậy, Mỹ và phương Tây đã can thiệp gián tiếp vào tình hình Libya bằng cách kích động và hỗ trợ phe nổi dậy, cung cấp vũ khí, đạn dược cho phe nổi dậy, cố vấn quân sự một số nước NATO ủng hộ cuộc nổi dậy bằng những trận không kích bảo trợ cho phe nổi dậy.

2. Dự báo kịch bản của Libya tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi

Tính đến thời điểm hiện nay, sau khi ông Gaddafi chết được 5 tháng, Libya vẫn chưa có dấu hiệu thay đổi. Nhiều dự đoán cho rằng Libya đang chờ đợi cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 6 năm 2012 với nhiều kịch bản khác nhau sau bầu cử. Tuy nhiên, với những mâu thuẫn nội tại của đất nước Libya trong nhiều thập kỷ qua và với lực lượng lãnh đạo non trẻ của NTC, đất nước Libya trong thời gian tới sẽ có nhiều biến động khôn lường.

Có thể phác họa ra một số kịch bản như sau về tình hình Libya:

Kịch bản 1 (kịch bản bi quan): Libya có khả năng rơi vào một cuộc nội chiến. Libya hậu Gaddafi hiện nay đang phát triển không có phương hướng. Thách thức lớn nhất vẫn là: làm thế nào để xây dựng một chính phủ hiện đại, có khả năng ổn định tình hình trong nước thay vì một nhà độc tài. NTC mới thành lập, tuy được Liên hiệp quốc và nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, nhưng vẫn là một chính quyền còn non trẻ, chưa có một nhà lãnh đạo nào đủ uy tín và  kinh nghiệm điều hành đất nước. Di sản Gaddafi để lại là một nhà nước không có Hiến pháp, không có đường lối chính trị rõ ràng, không có đảng phái chính trị, không có xã hội dân sự và tự do ngôn luận. Nếu như ở Ai cập và Tunisia, quân đội đóng vai trò quan trọng duy trì trật tự xã hội khi chính quyền sụp đổ, thì tại Libya quân đội được đánh giá là không đoàn kết. Sau nhiều thập kỷ ổn định nhờ nguồn tài nguyên dầu mỏ, cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rằng dầu mỏ dễ trở thành yếu tố gây chia rẽ ở Libya, nơi các bộ lạc và khu vực nghèo đói ở miền Đông sẽ tranh giành quyền kiểm soát tài nguyên. Nhiều dự báo cho rằng Libya dễ rơi vào kịch bản của Afganistan hoặc Iraq khi các cuộc chiến tranh giành nguồn tài nguyên kéo dài và đẫm máu và dưới sự can thiệp của Mỹ và phương Tây. Nhiều dự báo khác lại cho rằng Libya có khả năng là bản sao của Somalia khi các bộ lạc không có sự đoàn kết và giằng co căng thẳng về lợi ích và đất nước sẽ trở thành một địa bàn lý tưởng cho các hoạt động khủng bố, hải tặc khắp khu vực Địa Trung Hải và Nam Âu. Ở Libya hiện nay đang tồn tại nhiều yếu tố mâu thuẫn trong hệ tư tưởng (chủ nghĩa Hồi giáo và chủ nghĩa thế tục), về lãnh thổ (Đông và Tây), về sắc tộc (người Arab và người Berber thiểu số), về giai cấp (người Libya nâu và người Libya đen), về chính trị (người theo phe nổi dậy và người theo phe Gaddafi). Những mâu thuẫn này dễ dẫn đến nội chiến và thảm họa nhân đạo trầm trọng. Theo kịch bản này, Libya phải mất từ 3-5 năm mới có thể phục hồi sản lượng dầu mỏ xuất khẩu ra thế giới.

Kịch bản 2 (Kịch bản thông thường): Libya tái thiết lại đất nước theo hướng dân chủ hóa với đầy rẫy những khó khăn. Theo kịch bản này, NTC sẽ tìm ra những nhà lãnh đạo ưu việt của mình, có khả năng lãnh đạo đất nước. Cho đến nay, ban lãnh đạo của NTC bao gồm ông Mustafa Mohammed Abdul Jalil – chủ tịch NTC, người từng là Bộ trưởng tư pháp dưới thời Gaddafi và được báo giới nước ngoài đánh giá là người có nhãn quan chính trị tốt, theo đường lối Hồi giáo ôn hòa. Phó chủ tịch NTC hiện nay là ông Mahmoud Jibril – là người từng theo học ở Mỹ, có quan điểm thân Mỹ và ủng hộ xây dựng chế độ dân chủ. Người được coi là Bộ trưởng tài chính của NTC là ông Ali Tarhouni, là giảng viên đại học Washington tại Seattle, có năng lực rất tốt trong việc thương thuyết các vấn đề liên quan đến dự trữ dầu mỏ của Libya. Những nhân vật này đang được đánh giá là đội ngũ lãnh đạo của Libya sau cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 6 sắp tới. Họ có năng lực để giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay ở Libya, có khả năng ổn định và thống nhất đất nước, có mỗi quan hệ thân hữu với phương Tây và hướng đến xây dựng một một đất nước tự do và dân chủ. Tuy nhiên, NTC sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức thời kỳ hậu Gaddafi, đặc biệt trong các vấn đề xây dựng hiến pháp, xây dựng quân đội, xây dựng xã hội dân sự, giải quyết mâu thuẫn nội tại trong nước để xây dựng nên một trật tự mới cho đất nước Libya.

Kịch bản 3 (Kịch bản lạc quan): Theo kịch bản này, Libya sẽ trở thành một đất nước dân chủ kiểu phương Tây. Chính phủ mới của Libya sẽ có năng lực thống nhất các bộ lạc và đưa Libya trở thành một đất nước dân chủ thế tục theo mô hình Thổ Nhĩ Kỳ. Điểm tựa của đất nước này là có một xã hội có trình độ dân trí cao và cơ sở hạ tầng hiện đại. Chính phủ Mỹ và các nước phương Tây đã cam kết viện trợ  hàng tỷ USD cho chính phủ Libya tương lai để tái thiết đất nước. Một Libya phát triển hiện đại và thân phương Tây sẽ là hình mẫu giúp các nước khác vừa trải qua biến động Mùa xuân Arab như Ai Cập và Tunisia xây dựng chế độ dân chủ kiểu mới.


[1] Sau cuộc chiến tranh 6 ngày tại Trung Đông năm 1967 với Ai Cập là một bên tham chiến cùng nhiều quốc gia khác chống lại Israel, tình trạng căng thẳng trong khu vực tiếp tục kéo dài cho đến năm 1979, dưới sụ bảo trợ của Hoa Kỳ hai phía Ai Cập và Israel đã ký Hiệp định hòa bình và Ai Cập trở thành đồng minh của Hoa Kỳ, nhận viện trợ rất lớn của nước này.