Thứ năm, ngày 15 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
KHUYNH HƯỚNG TỔNG THỂ CỦA HỒI GIÁO HIỆN ĐẠI - Phần II
Ngày đăng: 13/12/2011

TS. Bùi Nhật Quang
VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU PHI VÀ TRUNG ĐÔNG


Dự báo về biến động số lượng tín đồ Hồi giáo cho thấy trong thời gian từ nay đến năm 2030, số lượng tín đồ Hồi giáo đang và sẽ tăng với tốc độ nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng dân số không theo Hồi giáo và PEW Research Center đưa ra tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm giai đoạn 2010 - 2030 của tín đồ Hồi giáo là 1,5% so với 0,7% của dân số không theo đạo Hồi và với tốc độ tăng dự kiến như vậy thì vào năm 2030, tín đồ Hồi giáo sẽ chiếm tới 26,4% trong tổng số 8,3 tỷ dân số toàn cầu.

Các quốc gia có trên 1 triệu người Hồi giáo


Nguồn: Pew Research Center’s Forum on Religion & Public Life, Mapping the Global Muslim Population, October 2009.

 2.2. Hồi giáo dòng Sunni và Hồi giáo dòng Shia.

Trong quá trình phát triển của mình, Hồi giáo ngày càng vươn xa tới nhiều vùng, miền khác nhau trên thế giới và qua mỗi thời kỳ, tôn giào này đã có những điều chỉnh nhất định để thích nghi với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa tại các địa phương. Dù vậy, một trong những biến động lớn của Hồi giáo là sự kiện Nhà tiên tri Mohammed mất (năm 632) và các tranh cãi về quyền kế thừa đã khiến cho Hồi giáo tách thành hai dòng lớn: Hồi giáo dòng SunniHồi giáo dòng Shia (còn gọi là Hồi giáo Shiite). Mặc dù sự phân tách theo hai dòng Hồi giáo như trên có nguyên nhân lịch sử từ nhiều thế kỷ trước đây nhưng các khuynh hướng phát triển Hồi giáo hiện đại lại thể hiện nhiều đặc điểm mới khiến cho sự chia tách như vậy đang trở thành vấn đề sâu xa đằng sau nhiều sự kiện biến động nổi bật của giai đoạn hiện nay.

Người Hồi giáo Sunni tự coi mình là dòng chính thống và truyền thống của đạo Hồi. Từ Sunni xuất phát từ cụm từ “ahl al-Sunna”, nghĩa là con người của truyền thống. Người Hồi giáo Sunni sùng kính tất cả các đấng tiên tri được nêu trong kinh Koran, đặc biệt là Mohammed. Trong khi đó, người Hồi giáo Shia theo nghĩa đầy đủ là “Shiat Ali” tự coi mình là nhóm thừa hưởng các quyền lợi của Ali, con rể Mohammed và họ tự coi họ là những người đi theo đường lối chính trị, nối dõi trong việc lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo. Cả hai dòng Hồi giáo này đều tôn thờ thánh Alla và Muhammed, cùng thực hiện 5 trụ cột cơ bản của Hồi giáo. Tuy nhiên, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohammed mất, hai dòng Hồi giáo trên đã có những xung đột liên quan đến việc ai sẽ là người lãnh đạo đạo Hồi. Qua nhiều thế kỷ phát triển, sự khác biệt giữa hai dòng Hồi giáo ngày càng gia tăng với những tranh cãi liên quan tới quan điểm chính trị, những khác biệt về lý luận logic và một số khác biệt khác về cách thức thực hiện nghi lễ tôn giáo.

Bảng 3. Phân biệt giữa Hồi giáo dòng Sunni và Hồi giáo dòng Shia

Hồi giáo dòng Sunni là dòng Hồi giáo lớn nhất và các tín đồ Hồi giáo Sunni thường được coi là “những người của truyền thống Mohammed và của cộng đồng”. Hồi giáo Sunni được coi là dòng chính thống và danh từ “Sunni” có từ nguyên là Sunnah để chỉ những lời răn rạy và hành động của Thánh Mohammed được ghi lại trong Sách thánh Hadith[1]. Tín đồ Hồi giáo Sunni coi Sahih al-Bukhari Sahih Muslim là Sách thánh Hadith chính thức của mình.

Hồi giáo dòng Sunni có 4 trường phái tư tưởng chính thức (gọi là các madh’hab) được chấp nhận rộng rãi bao gồm: (1) Trường phái Hanafi; (2) Trường phái Maliki; (3) Trường phái Shafi’i và (4) Trường phái Hanbali. Cả 4 trường phái này đều nghiên cứu về các tập quán tôn giáo, việc thực thi các nghi lễ tín ngưỡng và về các Hadith do vị Imam[2] thứ 6 là Jaffar Al-Sadiq (cháu nội của nhà tiên tri Mohammed) kể lại. Hồi giáo dòng Sunni chỉ chấp nhận 4 vị Caliph[3] đầu tiên là người kế thừa chính trị hợp pháp của Mohammed và chấp nhận các Hadith do những Sahabah [4] của Mohammed kể lại

Hồi giáo dòng Shia là dòng Hồi giáo lớn thứ hai sau Hồi giáo Sunni. Những tín đồ Hồi giáo Shia được gọi là những người Hồi giáo Shi’ites hoặc Shias. Shia là chữ viết tắt của cụm từ Shi’atu ‘Ali có nghĩa là người tin theo Ali hoặc Trường phái Ali. Hồi giáo Shia cho rằng gia đình của Mohammed (với tên gọi Ahl al-Bayt) và một số thành viên nhất định trong số những người kế thừa của ngài (gọi là các Imam) là những người có đầy đủ thần quyền và thế quyền để cai trị cộng đồng Hồi giáo. Các tín đồ Hồi giáo Shia cũng tin rằng Ali (con rể của Mohammed) là người đầu tiên trong những Imam này và do vậy là người kế thừa chính thức của Mohammed. Điều này có nghĩa là Hồi giáo Shia phủ nhận tính hợp pháp của 3 vị Caliph khác.

Tín đồ Hồi giáo Shias coi Ali là lãnh đạo tôn giáo quan trọng thứ hai sau Nhà tiên tri Mohammed và họ cũng cho rằng Mohammed đã nhiều lần chỉ ra rằng Ali sẽ là người kế thừa vị trí lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo sau khi ngài mất. Ali với tư cách người kế thừa của Mohammed không chỉ nắm quyền lãnh đạo mà còn có quyền diễn giải Luật Sharia và những hàm ý bí truyền của luật này. Ali được coi là vị Imam đầu tiên, là người “hoàn hảo” và tín đồ Hồi giáo Shia chỉ chấp nhận các Hadith về Mohammed và các Imam (chứ không chấp nhận các Hadith của người đồng hành Sahabah như đối với Hồi giáo Sunni)

Sự khác biệt trong chấp nhận các Hadith được coi là một trong những khác biệt và mâu thuẫn lớn giữa Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Shia.

Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả.

Nghiên cứu năm 2009 của PEW Research Center đã đưa ra những số liệu mới nhất về thực trạng biến động số lượng tín đồ Hồi giáo Sunni và Shia trên thế giới trong đó xác định rằng đại đa số người Hồi giáo trên thế giới là thuộc dòng Sunni và chỉ khoảng 10% đến 13% là thuộc dòng Shia. Điều này có nghĩa là tổng số tín đồ Hồi giáo Shia trên thế giới là vào khoảng 154 đến 200 triệu người. Số liệu khảo sát thực tế cũng cho biết khoảng ¾ tổng số tín đồ Hồi giáo Shia đang sinh sống tại châu Á với con số từ 116 đến 147 triệu người. Một bộ phận tương đối lớn khác tín đồ dòng Shia (khoảng ¼) hiện sinh sống tại Trung Đông – Bắc Phi.

Một đặc điểm quan trọng nữa liên quan đến sự khác biệt giữa hai dòng Hồi giáo là dòng Shia tuy chiếm số lượng ít hơn nhưng thường có vị trí rất quan trọng và nắm quyền lãnh đạo tại một số quốc gia Hồi giáo lớn. Số liệu nghiên cứu cho thấy phần lớn người Shia (từ 68% đến 80%) hiện sống tại 4 quốc gia là Iran, Pakistan, Ấn Độ và Iraq. Cộng hòa Hồi giáo Iran là nơi sinh sống của từ 66 đến 70 triệu tín đồ Hồi giáo Shia, tương đương với 37% - 40% tổng số tín đồ dòng Shia trên thế giới.

Sự khác biệt của hai dòng Hồi giáo Sunni và Shia cho đến nay vẫn thể hiện một khuynh hướng biến động quan trọng của Hồi giáo nói chung và trở thành lý do đằng sau những sự kiện mâu thuẫn, xung đột ngay trong nội tại thế giới Hồi giáo. Một số vấn đề về Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Shia có thể được đề cập bao gồm:

- Kể từ khi cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979 thành công, nhà nước Iran và các nhà lãnh đạo tôn giáo đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự Hồi giáo Shia cấp tiến, đặt ra thách thức về thần học và tư tưởng đối với chế độ bảo thủ của phái Sunni, đặc biệt ở khu vực vùng Vịnh Ba Tư.

- Tại Lebanon, người Hồi giáo Shia được trọng vọng và có tiếng nói chính trị mạnh mẽ. Tuy nhiên, ở nhiều nước khác, sự xung đột giữa Hồi giáo Sunni và Shia ngày càng sâu sắc. Một số luận thuyết bảo thủ của người Sunni đã chủ trương hận thù người Shia. Tại Pakistan cũng đã từng có những giai đoạn lịch sử xung đột đẫm máu giữa người Shia và người Sunni trong thập kỷ 1980. Tại Iraq, cuộc chiến tôn giáo giữa người Shia và người Sunni vẫn đang tiếp diễn và tình hình Iraq cho tới hiện tại đang diễn biến ngày càng phức tạp với những vấn đề mâu thuẫn đan xen: mâu thuẫn giữa dân bản địa với sự hiện diện của binh lính nước ngoài, mâu thuận giữa hai dòng Hồi giáo trong quan hệ với bên ngoài và trong quan hệ với nhau.

- Kể từ đầu năm 2011, các sự kiện về bạo loạn, biểu tình chống chính phủ tại hàng loạt các quốc gia Trung Đông – Bắc Phi cũng có phần liên quan tới mâu thuẫn giữa Hồi giáo dòng Sunni và dòng Shia với trường hợp tiêu biểu là tại Bahrain khi người Hồi giào dòng Shia chiếm đa số nhưng nhà nước lại do dòng Sunni lãnh đạo, dẫn tới những mâu thuẫn sâu sắc cả về quyền lợi kinh tế lẫn tư tưởng, đường lối tôn giáo. Điều này khiến cho Bahrain trở thành một trong những điểm nóng của biểu tình, bạo loạn chống chính phủ.

Như vậy có thể thấy những rạn nứt giữa người Sunni và người Shia đang tạo nên một sự chia rẽ rất khó hàn gắn ngay trong nội tại đạo Hồi. Sự chia cắt giữa các dòng tôn giáo, các trường phái tư tưởng trong nội tại đạo Hồi sau khi Mohammed mất đã làm suy giảm khả năng liên kết thành một khối thống nhất mạnh mẽ của người dân Arab. Trong thời kỳ phát triển hiện đại, khuynh hướng phân tách giữa hai dòng Hồi giáo chủ yếu vẫn đang nổi lên ngày càng mạnh và được coi như một trong những lý do tạo ra những nhìn nhận tiêu cực của thế giới bên ngoài đối với các tín đồ Hồi giáo. Các vấn đề của hai dòng Hồi giáo cũng góp phần làm đẩy nhanh quá trình phân hóa bên trong tôn giáo này để tạo ra các trào lưu Hồi giáo tự do, Hồi giáo ôn hòa cũng như Hồi giáo cấp tiến, Hồi giáo cực đoan.

2.3. Biến động của các trào lưu Hồi giáo.

            Một khuynh hướng nổi bật trong quá trình phát triển của Hồi giáo hiện đại là sự biến động của đức tin Hồi giáo, sự hình thành của các trường phái tư tưởng Hồi giáo mang tính chất “cải cách” và hướng tới tạo ra cho thế giới bên ngoài nhìn nhận tích cực và thiện cảm hơn về các tín đồ Hồi giáo. Cùng lúc đó, một khuynh hướng khác cũng đang diễn ra: quá trình Hồi giáo và các luật lệ tôn giáo bị siết chặt hơn, đẩy tôn giáo này vào xu thế quay lại với trào lưu chính thống, hình thành Hồi giáo cấp tiến hoặc “cực đoan hóa” để trở thành Hồi giáo cực đoan.

* Hồi giáo tự do (Liberal Islam).

Mặc dù một trong những khuynh hướng chủ đạo của Hồi giáo trong thời kỳ phát triển hiện đại là Hồi giáo theo trào lưu chính thống (Fundamentalist Islam) nhưng trong nội tại quá trình phát triển của tôn giáo này vẫn có một số các khuynh hướng phát triển theo hướng tự do để tìm tòi cách cách thức thay thế khác nhau giúp cho đức tin Hồi giáo có thể thích ứng với bối cảnh của thế giới thời hiện đại. Các khuynh hướng phát triển này được biết tới với tên gọi Hồi giáo tự do (Liberal Islam).

Các truyền thống Hồi giáo được hình thành từ một số nguồn bao gồm: Kinh Koran, các truyện kể Hadith và diễn giải hai văn bản này (được coi là các Sách Mặc Khải) của các học giả. Trong quá trình phát triển nhiều thế kỷ của Hồi giáo, các khuynh hướng chủ đạo vẫn là sự nổi trội của trào lưu Hồi giáo chính thống với khẳng định rằng việc diễn giải các sách Mặc Khải là không thể thay đổi, ngay cả đối với những văn bản mang đặc tính tôn giáo dân gian không xác định được là có liên hệ trực tiếp tới nhà tiên tri Mohammed. Tuy nhiên, một khuynh hướng biến động đáng quan tâm trong thời hiện đại là việc nhìn nhận lại cách thức tiếp cận các sách thánh đó của Hồi giáo cũng như nhìn nhận, diễn giải về các luật lệ Hồi giáo mà điển hình là Luật Sharia. Những người đi theo khuynh hướng tiếp cận mới này được coi là theo trào lưu Hồi giáo tự do.

Hồi giáo tự do nhìn chung được xác định trong khuôn khổ việc diễn giải về tôn giáo với quan tâm đặc biệt tới các vấn đề như dân chủ, tách biệt tôn giáo khỏi hoạt động chính trị, quyền của phụ nữ, tự do tư tưởng và thúc đẩy tiến bộ của con người. Những người theo trào lưu Hồi giáo tự do cho rằng luật Hồi giáo Sharia có tính chất linh hoạt hơn rất nhiều so với những yếu tố đang được hệ thống pháp lý Hồi giáo chính thống quy định và nhiều học giả Hồi giáo hiện đại tin rằng luật này cần được đổi mới, các nhà luật học cổ điển không nên bảo lưu những thẩm quyền đặc biệt của mình. Quan điểm như vậy đòi hỏi phải tạo lập cách thức thực thi luật mới phù hợp với thế giới hiện đại và áp dụng luật trong bối cảnh phát triển mới. Trào lưu Hồi giáo tự do không tìm cách thách thức các giá trị nền tảng của Hồi giáo mà tìm cách làm rõ, xóa bỏ các diễn giải sai lầm để từ đó tạo điều kiện cho việc đổi mới địa vị của thế giới Hồi giáo với vai trò một trung tâm tư tưởng hiện đại, tự do.

Bảng 4. Đồng thuận cơ bản của Hồi giáo tự do

Các tín đồ Hồi giáo tự do về cơ bản đã thống nhất ở một số đức tin và nguyên tắc tôn giáo tạo cho họ sự khác biệt so với Hồi giáo truyền thống:

-         Phản đối chế độ nô lệ và đa thê (đây là điều được chấp nhận vào thời đại của Mohammed)

-         Quan tâm tới nhân quyền và câu truyện về Adam trong kinh Koran đôi khi được diễn giải để bảo vệ nhân quyền

-         Coi trọng nữ quyền, chỉ trích Hồi giáo truyền thống về chế độ đa thê và khẳng định rằng phụ nữ có thể giữ các chức danh lãnh đạo tôn giáo, có thể lãnh đạo nhà nước và không cần phải tách biệt khỏi nam giới trong sinh hoạt xã hội cũng như trong nhà thờ, không cần dùng mạng che mặt

-         Ủng hộ xây dựng xã hội dân chủ, hiện đại, tách biệt thần quyền khỏi thế quyền

-         Đồng thuận về việc diễn giải kinh Koran và các sách Mặc Khải khác theo cách thức có thể dễ được chấp nhận hơn trong xã hội hiện đại

-         Chống lại ý tưởng đấu tranh có vũ trang – chẳng hạn như thánh chiến Jihad và ủng hộ các biện pháp hòa bình, phi bạo lực.

-         Nghi ngờ về độ tin cậy và khả năng áp dụng các sách Hadith trong cuộc sống thực tế

Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả

Như vậy, trào lưu Hồi giáo tự do đang được thúc đẩy để thực hiện cải cách tôn giáo và điều chỉnh những nội dung mà họ cho là được diễn giải sai. Phương pháp cải cách về căn bản được chia thành hai loại:

(1) Cách thứ nhất là cải cách bằng phương pháp diễn giải lại văn bản sách truyền thống là nguồn để tạo lập ra bộ luật Hồi giáo[5]. Phương pháp này được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau: từ những khác biệt nhỏ so với cách thức diễn giải truyền thống đến những diễn giải tự do hơn, chỉ coi ý nghĩa của kinh Koran như một nguồn cảm xúc thần thánh trong khi từng từ ngữ của cuốn sách thánh này được tin rằng chỉ có ý nghĩa là các lời răn dạy của nhà tiên tri Mohammed, chỉ phù hợp với thời đại của ngài và bối cảnh cuộc sống lúc đó. Điều này có nghĩa là các câu thơ trong kinh Koran khi diễn giải vào thời hiện đại thì chỉ mang tính chất phúng dụ hoặc thậm chí là không cần phải diễn giải nữa.

(2) Cách thức thứ hai đặt ra nghi ngờ về tính chất xác thực của các văn bản sách thánh truyền thống của đạo Hồi, do các học giả Hồi giáo truyền thống áp dụng. Cách thức cải cách này dẫn tới kết quả là hình thành trào lưu Hồi giáo tự do ở mức độ cao nhất có tên gọi là Qur’an Alone (chỉ duy nhất kinh Koran là đúng). Đây là trào lưu Hồi giáo tự do của những tín đồ chỉ tin theo kinh Koran và coi đây là sách thánh duy nhất của Hồi giáo. Những tín đồ này không công nhận các sách Mặc Khải khác như HadithSunnah[6].

Bảng 5. Sáu Đức tin Hồi giáo

Các sách viết về giáo lý Hồi Giáo đều đồng nhất tóm lược tất cả các tín điều căn bản (fundamental beliefs) thành 6 điều chính yếu được gọi là Sáu Đức tin Hồi giáo

1. Tin có một Thiên Chúa Duy Nhất (The Only God).

2. Tin có các Thiên Thần và Ma Quỉ

3. Tin các sách Mặc Khải (Books of Revelation)

4. Tin các vị Thiên Sứ (Messengers/Prophets)

5. Tin có ngày tận thế, xác kẻ chết sống lại, mọi người sẽ được Thiên Chúa xét xử trong Ngày Phán Xét Cuối Cùng

6. Mọi việc đều do Thiên Chúa tiền định nhưng mọi người đểu có ý chí tự do

Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả

Trong giai đoạn phát triển thời hiện đại, các xu hướng phát triển tự do đã hiện hữu và được thúc đẩy mạnh mẽ ngay bên trong thế giới Hồi giáo và từ đó, kinh Koran cùng các Hadith đã được diễn giải theo bối cảnh cụ thể của mỗi nhóm dân cư, mỗi cộng đồng Hồi giáo chứ không còn dựa theo quan điểm truyền thống của Hồi giáo thời trung cổ nữa. Tín đồ Hồi giáo tự do tuyên bố rằng họ vẫn hoàn toàn tin tưởng vào những giáo lý căn bản của đạo Hồi, chẳng hạn như sự thừa nhận đối với Năm trụ cột của Hồi giáoSáu đức tin. Dù vậy, người Hồi giáo tự do cho rằng họ đang quay trở lại với những nguyên tắc căn bản của cộng đồng Hồi giáo giai đoạn đầu tiên, trước khi các nguyên tắc này bị làm cho biến đổi vào thời trung cổ. Sự khác biệt chủ yếu của trào lưu tự do chính là ở cách nhận thức, nắm bắt và áp dụng các giá trị Hồi giáo cốt lõi vào cuộc sống thời hiện đại.

* Hồi giáo cấp tiến và Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo (Radical Islam and Islamic Extremism).

Một khuynh hướng đáng chú ý khác của Hồi giáo thời kỳ phát triển hiện đại là sự nhấn mạnh tới các giá trị được cho là “giá trị Hồi giáo chính thống” của các tín đồ và khuy hướng này được biết tới với tên gọi Hồi giáo cấp tiến. Trong khi đa số tín đồ Hồi giáo đang tin theo những dạng thức tôn giáo hòa bình thì một bộ phận nhỏ các tín đồ Hồi giáo cấp tiến muốn xây dựng một xã hội dựa hoàn toàn vào kinh Koran và sách thánh Hadith, phủ nhận cách thức diễn giải kinh sách hiện đại được coi là kết quả của nhiều thế kỷ đổi mới và điều chỉnh[7]. Các tín đồ Hồi giáo cấp tiến lập luận rằng những ảnh hưởng thế tục của ngoại bang đang làm sai lệch và đầu độc xã hội Hồi giáo và do vậy cần phải gây sức ép để tất cải phải quay lại với nhận thức ban đầu về Hồi giáo. Thánh chiến (Jihad) và đòi hỏi cải giáo theo đạo Hồi (Dawa) là cách thức để đạt tới mục đích này

Bảng 6. Jihad và các dạng thức chủ yếu

Jihad trong ngôn ngữ của đạo Hồi được hiểu là cuộc Thánh chiến, cuộc đấu tranh có vũ trang của người Hồi giáo thực hiện với 3 dạng thức chủ yếu:

- Đấu tranh nội bộ (Internal Jihad): là cuộc thánh chiến để chống lại các chế độ về hình thức là Hồi giáo nhưng bị cho là nghịch đạo, không kính Chúa và do vậy trở thành đối tượng đấu tranh, lật đổ

- Thánh chiến để phục hồi lãnh thổ (Irredentist Jihad): Đấu tranh, thánh chiến để đòi lại các vùng đất được coi là thuộc về thế giới Hồi giáo nhưng bị các thế lực phi Hồi giáo hoặc tà đạo chiếm đóng (đã và đang diễn ra tại các nơi như Afghanistan, Chechnya, Kashmir, Mindanao và đặc biệt là Palestine)

- Thánh chiến toàn cầu (Global Jihad): Đây là chủ đề của thời kỳ phát triển hiện đại khi cuộc Thánh chiến được kêu gọi để các tín đồ Hồi giáo cấp tiến chống lại phương Tây hoặc cụ thể hơn nữa là chống lại Hoa Kỳ và các đồng minh của nước này (tập trung nhiều nhất là chống lại Israel). Cuộc Thánh chiến toàn cầu được coi là do tổ chức Hồi giáo cực đoan al-Qaeda đi tiên phong, phát động kể từ năm 1998 và sau đó được nhiều mạng lưới Hồi giáo độc lập khác hưởng ứng, trở thành một phong trào lan rộng cho tới hiện nay.

Nguồn: Tổng hợp thông tin của tác giả

 Phong trào Hồi giáo cấp tiến đã đặt ra những yêu cầu và cách thức hành động cụ thể để tác động tới người Hồi giáo cũng như toàn thể thế giới. Các tín đồ Hồi giáo cấp tiến nhấn mạnh tới sự cần thiết phải áp dụng Luật Hồi giáo Sharia cho toàn thể xã hội hiện đại. Họ cũng phát triển ý tưởng về việc xây dựng một thế giới Hồi giáo mở rộng và xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của phương Tây trong thế giới Hồi giáo. Đối với các tín đồ Hồi giáo cấp tiến, mục tiêu cuối cùng là khôi phục Caliphate – một nhà nước Hồi giáo nhất nguyên do một lãnh đạo tối cao là Caliph cai quản. Đây được coi là nhà nước Hồi giáo có khả năng phát triển đạo Hồi ra toàn thế giới và bắt toàn bộ các quốc gia khác phải quy phục.

Một dạng thức được đẩy lên mức cao nhất của Hồi giáo cấp tiến được biết tới với tên gọi Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Khuynh hướng phát triển này của Hồi giáo đặc biệt được nhắc tới trong giai đoạn phát triển của thế giới thời hiện đại sau sự kiện khủng bổ 11/9/2001 tại Hoa Kỳ và tiếp nối sau đó là cuộc đấu tranh chống khủng bố do Hoa Kỳ phát động trên toàn cầu. Về cơ bản, chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo có thể được coi như một khuynh hướng phát triển của Hồi giáo hiện đại và bao hàm hai nội dung chính:

(1) Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo thể hiện ở quan điểm bảo thủ đến mức cực đoan trong áp dụng, thực thi các giáo lý của đạo Hồi. Việc giữ quan điểm bảo thủ cực đoan không nhất thiết bao hàm các hành động bạo lực nhưng chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực trong quy định về các hành vi, lối sống của các tín đồ Hồi giáo và các nhà nước Hồi giáo

(2) Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo thể hiện ở việc sử dụng các phương thức đấu tranh cực đoan và bạo lực như khủng bố, đánh bom tự sát…vv để đạt tới các mục tiêu tôn giáo.

Hồi giáo cực đoan phát triển rất mạnh kể từ năm 1996 khi Osama Bin Laden[8] đưa ra Fatwah - một quyết định tôn giáo chính thức kêu gọi những người Hồi giáo giết lính Mỹ đang đóng quân ở Saudi Arabia. Năm 1998, Fatwah viết “Giết những người Mỹ và đồng minh của chúng - cả lực lượng dân sự và quân đội – là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người Hồi giáo, những người có thể làm một điều gì đó cho đất nước của mình”; và “Tự do cho al-Aqsa Mosque và xoá sạch quân đội Mỹ và đồng minh trên những mảnh đất của người Hồi giáo[9]. Bin Laden đã thành lập tổ chức cực đoan al-Qaeda với mục tiêu “Xoá bỏ mọi ảnh hưởng của tư tưởng nước ngoài trong các nước Hồi giáo, và hình thành những nhà nước Hồi giáo mới”[10]. Al-Qaeda đã phát động phong trào Jihad trên khắp thế giới để chống lại phương Tây và các tôn giáo khác và gây ra nhiều vụ khủng bố lớn, chẳng hạn như sự kiện kh