Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Trung Đông và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam
Ngày đăng: 10/01/2014


LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng và tiến trình đổi mới ngày càng phát triển, Việt Nam tiếp tục nỗ lực mở rộng quan hệ hợp tác về mọi mặt với bạn bè năm châu, trong đó có các nước Trung Đông – nơi thu hút sự quan tâm ngày càng cao của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là về các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, khai thác và buôn bán dầu khí, nhằm phát triển các mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Trung Đông là khu vực có vị trí địa – chính trị quan trọng, là cùng đất giao thoa gữa ba châu lục Á- Âu- Phi, tiếp nối giữa hai biển lớn là Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, là mạch giao thông rất quan trọng của thế giới. Hơn thế, Trung Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên dầu mỏ lớn nhất thế giới, chiếm 68% trữ lượng dầu thô toàn cầu, nguồn năng lượng quý giá và cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mọi quốc gia. Nhóm các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) có tiềm lực tài chính lớn, có khả năng đầu tư trên nhiều lĩnh vực. Trung Đông theo nghĩa rộng có dân số khoảng 350 triệu người với mức thu nhập trung bình cao, là một thị trường lớn về hàng hóa, dịch vụ, lao động, trong đó Việt nam có khả năng cung cấp một số một số mặt hàng như: nông sản, hàng tiêu dùng, lao động,…

Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực Trung Đông, Chính phủ Việt Nam đã đưa vào thực hiện “Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008 -2015” nhằm tăng cường phát triển sự hợp tác nhiều mặt, cùng có lợi, thiết thực và hiệu quả với các nước trong khu vực này. Cho đến nay, Chương trình này đang được triển khai, bước đầu đạt được những thành tựu nhất định.

Trong khi khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2008 đến nay đang kéo theo thị phần xuất khẩu của Việt Nam ở các thị trường truyền thống giảm xuống thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường Trung Đông có xu hướng tăng lên. Đó là một dấu hiệu tốt cho tiềm năng quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với thị trường Trung Đông. Tuy nhiên, quan hệ này còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế, thương mại của Việt Nam và Trung Đông.

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với Trung Đông còn ở mức thấp là vì sự hiểu biết của chúng ta về Trung Đông chưa nhiều. Tài liệu tra cứu thông tin về các nước Trung Đông nhằm hỗ trợ đánh giá, phân tích tiềm năng thế mạnh của thị trường Trung Đông; phân tích, giới thiệu về văn hóa, tập tục, tôn giáo, cũng như những đặc điểm về chính trị, luật pháp của các quốc gia Trung Đông còn rất sơ sài. Xuất phát từ thực trạng và nhu cầu thực tiễn hiện nay, chúng ta cần đi sâu tìm hiểu về Trung Đông nói chung, thị trường Trung Đông nói riêng. Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu về khu vực Trung Đông và khả năng hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực này là rất cần thiết, không chỉ nhằm góp phần thực hiện thành công Chương trình hành động quốc gia, mà còn góp phần nâng cao nhận thức của bạn đọc Việt Nam về Trung Đông, cung cấp các cứ liệu khoa học cần thiết cho việc hoạch định chính sách của Nhà nước, nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các trường học, các viện nghiên cứu, các cơ quan có liên quan, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, tìm hiểu cơ hội, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại Trung Đông.

Nhằm thực hiện mục tiêu nêu trên và phục vụ cho việc xây dựng, thực thi các chính sách của Chính phủ Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả có tham khảo mộ số quan niệm khác nhau được các tổ chức quốc tế và các nước khác trên thế giới đã nêu ra, trong đó trọng tâm tập trung nghiên cứu các nước Trung Đông theo quan niệm và khuôn khổ chính sách đã được nêu trong Đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008-2015 mà Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt. Theo Đề án này, Trung Đông là khu vực có 16 nước với tổng diện tích khoảng 6 triệu km2, dân số trên 260 triệu người, gồm các nước cụ thể: Arập Xêút, Baren, Cata, Các tiều vương quốc Arập thống nhất, Côoét, Gioócđani, Iran, Irắc, Ixraen, Libăng, Ôman, Palextin, Síp, Thổ Nhĩ Kỳ, Xyri và Yêmen.

Nội dung nghiên cứu của cuốn sách tập trung vào những vấn đề chính gồm: cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông; tình hình chính trị, an ninh, ngoại giao của khu vực; thực trạng, tiềm năng triển vọng phát triển các quan hệ kinh tế, thương mại, dầu tư, lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên, du lịch; cùng các quan hệ hợp tác mang tính khu vực như hợp tác thông qua Hội đồng Hợp tác vùng Vinh (GCC)…; từ đó có một số đánh giá, kết luận và kiến nghị về các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước Trung Đông từ nay đến năm 2020 và xa hơn.

Tham gia viết cuốn sách này có PGS.TS Đỗ Đức Định, PGS.TS Trần Văn Tùng, PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền, PGS.TS Bùi Nhật Quang, TS. Trần Thị Lan Hương, Th.S Trần Thùy Phương, Th.S Đỗ Đức Hiệp, Th.S Kiều Thanh Nga và CN. Phạm Thị Kim Huế. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng do đây là một đề tài lớn với nhiều vấn đề khó, các tác giả còn có những hạn chế trong quá trình nghiên cứu, nhất là ít có điều kiện đi nghiên cứu, tiếp cận thực tế tại các nước Trung Đông, nên không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, rất mong được bạn đọc góp ý và bổ khuyết.