Thứ bảy, ngày 20 tháng 10 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Lễ hội năm mới ở Ai Cập cổ đại
Ngày đăng: 21/03/2017

Bùi Thị Ánh Vân

Tiến sĩ, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

 

 

TÓM TẮT

Khác với xã hội hiện đại, người Ai Cập cổ đại tổ chức lễ hội năm mới (Wepet Renpet) gắn liền với hiện tượng lũ lụt hàng năm của sông Nile. Sau mỗi mùa lũ, những lớp phù sa phủ dày trên sa mạc khô cằn là dấu hiệu của sự tái sinh và hồi xuân. Để chào đón năm mới, cư dân bản địa đã tổ chức nhiều lễ hội chứa đựng các nghi thức tôn giáo mang màu sắc văn hóa nông nghiệp.

Mở đầu

Từ lâu đời, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, Tết là lễ hội tôn vinh năm mới lớn nhất trong năm. Trong dịp này, trên đất nước Ai Cập thời cổ đại đã diễn ra nhiều phong tục rất đặc biệt, thấm đẫm màu sắc tôn giáo và tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước. Do những biến động trong quá trình phát triển lịch sử, các phong tục truyền thống này đến nay không còn hiện hữu tại lễ hội năm mới ở xứ sở Kim tự tháp.

1.  Lễ hội mừng năm mới của Ai Cập cổ đại

Thời cổ đại, có lẽ người dân Ai Cập sẽ rất sửng sốt nếu được nghe thông tin về ngày tận thế của loài người vào năm 2012, bởi đối với họ, mỗi dịp cuối năm đều có thể là thời gian tồn tại cuối cùng của mình. Do đó, khi mà các dân tộc trên thế giới đều đón chào năm mới bằng việc ăn mừng cùng những lễ hội vui vẻ, thâu đêm thì với người dân sông Nile cổ đại, đó là một khoảng thời gian của sự trang nghiêm và sợ hãi. Họ không thể biết chính xác năm mới sẽ đến khi nào, bởi sự kiện này phụ thuộc vào thời gian bắt đầu ngập lụt hàng năm của sông Nile. Mọi việc trở nên tồi tệ hơn khi họ không có những biện pháp để chống chọi lại những đợt lũ lụt đều đặn ấy. Việc đóng cọc cao hơn so với mực nước sẽ khiến phù sa không thể tràn vào để tạo nên lớp đất màu mỡ và họ có thể chết đói trong vụ mùa tới; ngược lại, nếu nước dâng lên quá cao, người dân có thể bị chết đuối... Sự căng thẳng và lo lắng càng tăng lên khi tín ngưỡng nơi đây tồn tại quan niệm cho rằng, thần Khons1 đã viết xong Cuốn sách kết thúc của Năm (“The Book of the End of the Year”), trong đó có danh sách những người được sống và ai sẽ chết trong năm tới. Các vị linh mục đã phải tìm mọi cách để bảo vệ người dân với những câu thần chú ma thuật trong “Cuốn sách ngày cuối cùng của Năm” (“The Book of the Last Day of the Year”), được viết trên giấy cói2. Tuy rằng ai cũng đeo cuốn sách này quanh cổ, nhưng không họ dám đi bộ ra những vùng lân cận, đặc biệt là khi với một cái cổ không có gì trong các ngày có đầy những nguy hiểm rình rập. Các mối lo ngại và sự sợ hãi trong khoảng khắc đón chào năm mới cho thấy cuộc sống rất mong manh và bấp bênh của người Ai Cập lúc đó.

Lễ hội say xỉn

Nguồn: http://ancientstandard.com

Do bị chi phối bởi sự kiện lũ lụt hàng năm của sông Nile, nên ngày Tết của người Ai Cập cổ không được tổ chức vào một ngày cố định. Thông thường, năm mới của họ rơi vào tháng 7, trùng với ngày Hạ chí (Summer solstice). Theo lịch của cư dân bản địa đương thời, thời gian trong năm được tính là 360 ngày. Thời gian giao thời của cuối năm cũ – đầu năm mới được gọi là “5 ngày của năm” (“yearly five days”), trong đó, ngày đầu tiên được quan niệm là thời gian tái sinh của thần Sah – vị thần của sự sống và sự phục sinh. Trong thời hạn 5 ngày đó, ngôi sao Sirius sẽ xuất hiện trở lại trên bầu trời và chòm sao Orion sẽ trở nên hữu hình. Điều này trở nên quan trọng kể từ khi Sirius được coi là biểu hiện của tâm hồn Sopdet và Orion là biểu hiện của Sah3. Đây là cuộc hội ngộ của người Mẹ và người Cha thánh thần. Với những người làm nhiệm vụ cắt xẻ đá và trang trí các ngôi mộ Hoàng gia trong Thung lũng những vị vua, họ có tổng số 9 ngày nghỉ: 1 ngày cuối cùng của năm, 5 “ngày của năm” và 3 ngày đầu tiên của năm mới. Đây cũng là dịp để người Ai Cập tiến hành các lễ kỷ niệm tuyệt vời với việc ăn uống no nê.

1.1. Những quan niệm về năm mới

Khảo cứu tín ngưỡng dân gian Ai Cập cổ cho thấy, nơi đây đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về năm mới. Bởi cuộc sống đương thời của họ gắn với sông Nile nên sự xuất hiện của năm mới đã gắn liền với hiện tượng lũ lụt hàng năm (annual flood). Theo truyền thuyết, thần Sah (Orion) và Sopdet (Sirius) bị thần Duat (Thế giới ngầm) nuốt chửng trong thời gian Xuân phân (Vernal Equinox) và 70 ngày sau, các vị thần đó đã xuất hiện trở lại. Sự kiện này diễn ra hàng năm ngay trước khi vùng đất sông Nile bị ngập lụt. Thế giới Manu là nước nguyên sinh của sự sáng tạo, do thần Nun làm chủ, sẽ tuôn trào trong tháng chín Tepi, thời gian vô tận của cõi vĩnh hằng4.

Viết về sự xuất hiện và tái tạo thế giới, Djehuti (còn được gọi là Thuti hay Thutii) - một vị tướng thời vua Thutmose III (1479-1425 trước CN) trong triều đại thứ 18, đã thốt ra những lời lẽ thể hiện sự rung chuyển của cuộc sống mà thần Maat5 tạo ra trong trình tự đầu tiên. Hiện tượng lũ lụt hàng năm ở sông Nile rất giống với sự tái tạo cuộc sống của thần Nun trong tín ngưỡng dân gian. Thực tế cho thấy, lũ lụt của sông Nile là vô cùng quan trọng với người dân bản địa, vì nếu không có nó, người ta sẽ không có khả năng để phát triển cây trồng trong sa mạc khô cằn. Sau khi lũ lụt rút đi sẽ để lại lớp phù sa màu mỡ, thuận lợi cho vạn vận sinh sôi nảy nở. Nhà sử học Hy Lạp cổ đại Herodotos (Hρόδοτος Aλικαρνασσεύς) khi đặt chân đến Ai Cập đương thời đã rất đúng khi đưa ra bình luận: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nile”. Có lẽ vì thế, người Ai Cập đã chọn lựa đây là thời điểm khởi đầu của năm mới – vạn vật đã được tái sinh.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng Ai Cập cổ còn đề cập đến chòm sao Sirius (Sopdet) và coi đó là một dấu hiệu chính yếu báo hiệu năm mới đã tới. Theo ghi chép của nhà văn La Mã Censorinus, cách tính năm mới của cư dân bản địa dựa trên sự xuất hiện trở lại đầu tiên của Sirius (Sopdet) – chòm sao sáng nhất (the brightest amongst the stars) biến mất khỏi tầm nhìn cùng chòm Orion (Sah) vào 70 ngày trước đó. Chu kỳ xuất hiện của Orion và Sirius đã ảnh hưởng đến quan niệm tín ngưỡng của người Ai Cập cổ về cái chết. Họ tin rằng, tiếp sau cái chết là hành trình phục hồi để trở lại cuộc sống. Do đó, 70 ngày cũng là khoảng thời gian cần thiết để người Ai Cập đương thời thực hiện nghi thức ướp xác truyền thống6. Với niềm tin tôn giáo, họ hy vọng được gắn kết với linh hồn mình trên một con đường dẫn đến thành công ở thế giới bên kia. Sự kiện này xảy ra giữa tháng Bảy - trước khi sông Nile ngập lụt hàng năm. Đôi khi Sirius xuất hiện vào lúc mặt trời sắp mọc. Điều này là rất linh thiêng, bởi người Ai Cập cổ tin tưởng rằng, khi Sirius tái xuất cùng thời điểm mặt trời mọc, vị thần sẽ dẫn đường cho tâm thức con người với niềm hy vọng về cuộc sống mới cùng mùa màng bội thu.

Theo quan niệm Ai Cập truyền thống, Sirius (Sopdet) là phối ngẫu của thần Orion (Sah) – Mẹ và Cha của các vị thần. Theo thời gian, Sopdet và Sah đã được biết đến như các khía cạnh của Aset-Isis và Aser-Osiris; đồng thời được thờ cúng dưới tên Sopdet - Aset - Isis và Sah-Aser-Osiris. Trong tín ngưỡng Ai Cập, thần Sopdet thường được miêu tả như một con bò mang một khí cụ giữa cặp sừng của mình (a cow wearing a plant between her horns) (từ mối liên kết liên kết giữa Hathor và Aset), hoặc như một người phụ nữ đội một chiếc vương miện giữa hai sừng (a woman wearing a crown between two upstanding horns) và phía trên là ngôi sao nhọn năm cánh của Venus (từ đây chúng ta có sự liên kết chung của Isis với ngôi sao năm cánh). Trong một sự kiện thú vị về Mẹ vĩnh hằng mang tính chu kỳ và sự hồi sinh Đức Chúa Cha-Con, đó là cả hai người con gái của Sah-Aser-Osiris và con của mẹ ông ta là Sopdet-Aset-Isis và Soped-Horus. Chúng ta thấy Sopdet-Aset-Isis nổi lên trên bầu trời vào mỗi buổi sáng như các vì sao và con của bà là Venus (riêng biệt để gắn kết tinh thần cho Sirius) nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện vĩnh cửu của Sopdet trên bầu trời. Lễ tái sinh Sah-Aser-Osiris được cử hành trong sự theo dõi chặt chẽ của linh hồn Sopdet-Aset-Isis (Sirius). Việc xuất hiện của Sirius đồng thời với hiện tượng ngập lụt của sông Nile đã đánh dấu sự khởi đầu của một năm nông nghiệp.

Sự xuất hiện rực rỡ trở lại của mặt trời sau nhiều ngày u ám là một tín hiệu giúp người Ai Cập cổ nhận biết về sự khởi đầu của một năm. Cư dân sông Nile tin rằng, cũng như vạn vật, mặt trời đã được tái sinh và trưởng thành qua mỗi ngày. Họ cũng thấy cùng một chu trình tương tự trong năm: Mặt trời được sinh ra vào ngày đầu năm mới và trở nên yếu hơn trong vài tháng cuối cùng của năm. Có lẽ vậy, cuối năm luôn là khoảng thời gian rất nguy hiểm với người Ai Cập, bởi khi thần mặt trời đã yếu đi, ông rất dễ bị tấn công từ kẻ thù của mình và nếu vị thần này bị đánh bại, năm mới có thể không bao giờ đến. Do đó, khi mặt trời bừng sáng rực rỡ sau một thời gian dài yếu ớt, điều này đã báo hiệu cho cư dân sông Nile biết vị thần của mình đã chiến thắng. Người dân xứ sở Kim tự tháp hân hoan tiến hành lễ hội mừng năm mới và tôn vinh thần mặt trời đã giúp họ tái sinh một lần nữa! Do đó, nghĩa của “Wepet Renpet” là “Mở cửa năm mới” (“Opening of the Year”). Đây cũng chính là ngày sinh nhật của thần Mặt trời Ra-Horakhty .

Theo tư duy thiên văn của Ai Cập cổ đại, thời gian trung chuyển giữa hai năm (tức là 5 “ngày của năm”) cũng là rất nguy hiểm, bởi khi đó nữ thần Sekhmet đang điều khiển 12 con quỷ sát nhân (12 demonic murderers) di chuyển khắp thế gian. Những con quỷ này sẽ bắn tên từ miệng của mình (shooting arrows from their mouths) để gây ra các bệnh dịch hạch. Đêm giao thừa năm mới, người ta lo lắng sẽ bị những mũi tên phủ đờm (phlegm-coated arrows) bắn trúng vào mình và cho rằng, các cơn ho kỳ cục chính là sự khởi phát của dịch hạch. Để tự bảo vệ mình, người Ai Cập thực hiện nghi lễ đeo bùa quanh cổ và tin rằng, điều này sẽ khiến Sekhmet an lòng, thậm chí họ còn được nữ thần bảo vệ thay vì sự giận dữ7… Một truyền thuyết khác của Ai Cập còn gắn sự xuất hiện năm mới với câu chuyện thần Mặt trời Ra chuốc rượu nữ thần chiến tranh Sekhmet và làm bà bất tỉnh. Hành động này của Thiên Chúa Mặt trời đã cứu toàn bộ nhân loại khỏi sự hủy diệt của Sekhmet.  

1.2. Một số phong tục đầu năm mới

* Lễ hội mở cửa năm mới

Khi chòm sao Sirius lần đầu xuất hiện trở lại sau thời gian vắng bóng trên bầu trời đêm, năm mới của người Ai Cập cổ đại chính thức bắt đầu với lễ hội có tên Wepet Renpet - Mở cửa năm mới. Theo các nghiên cứu, bữa tiệc được cho là rất tuyệt vời và diễn ra trong cả tuần lễ dài. Do đồng bằng sông Nile bị ngập lụt khiến công việc đồng áng đình trệ trong thời gian này, nên họ được thoải mái tham gia vào các lễ kỷ niệm. Wepet Renpet có ý nghĩa quan trọng đối với người Ai Cập cổ vì nó là sự kiện nhằm đảm bảo khả năng sinh sôi nảy nở và mùa màng bội thu trong năm tới.

 Với người Ai Cập, năm mới là thời gian đánh dấu sự tái sinh và hồi xuân (rebirth and rejuvenation). Do đó, nó đã được vinh danh với những nghi lễ tôn giáo đặc biệt. Đây là dịp mọi người có thể thực hiện sự hiệp thông với các vị thần, đồng thời đây cũng là một trải nghiệm tinh tế và mạnh mẽ. Không những thế, lễ hội Mở cửa năm mới cũng là dịp ăn mừng sự trở lại và đoàn tụ của Chúa Cha với Đức Mẹ thông qua một số lễ nghi theo phong cách Ai Cập.

Trong những ngày Tết của người Ai Cập cổ, các loại thực phẩm, đồ uống tốt nhất được cung cấp8. Món ăn truyền thống của họ trên các mâm cỗ là cá, tỏi, rau sống và trứng gà. Trong tiềm thức của cư dân sông Nile, cá là một món ăn thánh thiện và may mắn. Việc thưởng thức các sản phẩm được làm từ cá trong ngày đầu năm mới sẽ khiến mọi thành viên trong gia đình an ổn, hạnh phúc, mọi điều như ý. Được xem là vật có thể diệt trừ những điều run rủi, những củ tỏi thường xuất hiện trên các bậc thềm và trước cửa nhà, hoặc xâu thành vòng cổ cho trẻ nhỏ trong dịp Tết. Tỏi còn là món quà tặng giữa những người bình dân thay cho lời chúc một năm mới bình an và nhiều may mắn.

Người Ai Cập ăn rau sống với hy vọng cuộc sống luôn xanh tươi và tràn đầy sức sống. Trứng gà cũng là một trong những món ăn được lựa chọn nhiều bởi màu sắc truyền thuyết của nó. Trong tư duy của cư dân sông Nile cổ xưa, hình ảnh quả trứng gà thường được liên tưởng với hình dáng của vũ trụ. Do đó, việc thưởng thức trứng gà hoặc tặng nó cho những người thân yêu đều được coi là biểu tượng của sự may mắn đầu năm mới. Với việc uống rượu trong các bữa tiệc, người Ai Cập cổ mong muốn chia xẻ các biểu tượng mang bản tính Thiên Chúa và nhờ vậy, họ có thể nhận được phước lành của Sopdet, Sah và Ra.

Khi mặt trời mọc vào ngày đầu năm mới, đó chính là một thời điểm tuyệt vời bởi sự kết thúc của thế giới đã được ngăn chặn một lần nữa. Mọi người cúng dường cho Ra-Horakhty vào lúc bình minh và sau đó đổ mực đen xuống sông Nile cho thần Nut và thần Nun. Họ cũng tự thanh tẩy bản thân nhờ tắm rửa bằng nước sông Nile đang trong quá trình bị bao phủ bằng mực đen và trang điểm mắt mình bằng màu xanh từ lá cây tốt nhất. Sự xuất hiện kịp thời và náo nhiệt của họ tại các bữa tiệc ồn ào là để chứng minh một lần nữa rằng, thế giới không bao giờ có gì thay đổi. Trong dịp đầu năm mới, người Ai Cập đã tổ chức nhiều lễ hội với những trải nghiệm dữ dội.

 * Lễ hội Sopdet

Ở Ai Cập cổ đại, các vị thần được thờ cúng trong những ngôi đền chịu sự quản lý của các vị tư tế đại diện cho nhà vua. Tại đây, mỗi điện thờ đều được đặt một bức tượng thần. Tuy nhiên, những công trình tôn giáo này không phải là nơi dành cho việc thờ cúng thường xuyên của cộng đồng. Chỉ vào một số ngày lễ kỷ niệm, bức tượng của vị thần mới được đem ra để thờ phụng công khai trong điện thờ 10. Thông thường, lãnh địa của các vị thần luôn cách biệt với thế giới bên ngoài và chỉ có quan chức của ngôi đền mới được phép đặt chân vào. Tuy nhiên, người dân cũng có thể thờ cúng các bức tượng thần riêng trong căn nhà của họ.

Vào năm mới, các ngôi đền Ai Cập đều cử hành lễ hội Sopdet. Những linh mục và nữ tu sĩ mặc trang phục nghi lễ, đeo mặt nạ các vị thần thiêng liêng và tập trung trong những ngôi đền trước khi bình minh hé lộ. Họ thực hiện các nghi lễ với việc hiển thị hình ảnh của các nam thần và nữ thần trên những mái nhà. Những cánh cửa của đền thờ hướng về phía đông sẽ được mở cửa ra để các vị thần có thể tắm trong ánh sáng đầu tiên của năm mới ngay khi mặt trời mọc. Sopdet-Aset-Isis kết hợp với Ra bởi ánh sáng của Mặt trời Cha (the sun Father) và Ngôi sao Mẹ (the star Mother). Điều này sẽ bao phủ vạn vật và được những vị thần kéo vào ngôi đền trong năm mới bằng các nghi lễ. Sau đó, trên các đường phố, người ta bắt đầu tổ chức yến tiệc no nê.

* Lễ hội say xỉn

Sopdet gắn kết với Hathor trong tín ngưỡng Ai Cập cho thấy, việc thờ phụng bà là một sự hợp nhất. Hathor (hoặc: HWT-HRW) đã được biết đến như là Quý bà say xỉn (Lady of Intoxication) và uống rượu là một nghi thức của sự thờ phụng. Theo đó, người dân Ai Cập sẽ tổ chức tiệc tùng và hội họp cộng đồng với việc trải nghiệm cảm giác ngà ngà say bởi men rượu. Những bữa tiệc tràn ngập rượu, bia là điều không thể thiếu của cư dân sông Nile cổ đại và họ cho phép bản thân đắm chìm trong dịp nghỉ lễ năm mới kéo dài hàng tuần.

Song hành với việc ăn uống là những hoạt động được tiến hành vui vẻ đầu năm mới với rượu – chất cồn này đóng một vai trò nào đó, thậm chí chiếm ưu thế. Điều này không còn thấy trong lễ hội năm mới của người Ai Cập hiện đại. Tiệc rượu lớn trong đầu năm mới của Ai Cập cổ được gọi là Lễ hội say xỉn - Festival of Drunkenness (tiếng Ai Cập: Tekhi), đã được gắn liền với huyền thoại nữ thần Sekhmet bị bất tỉnh bởi rượu của thần mặt trời Ra. Chính điều này đã khiến cho nhân loại được cứu rỗi. Người Ai Cập xưa kia cho rằng, say rượu là một trạng thái gần như tinh khiết (an almost pure state), là thời gian của sự hiệp thông với linh hồn và thần thánh (a time of communion with the spiritual and divine). Tụng kinh (chanting), ăn chay (fasting), khiêu vũ (dancing), giới tính (sex), âm nhạc (music) và sự vui chơi (revelry)10 … diễn ra đồng thời trong dịp này. Theo đó, rượu là một phần của văn hóa Ai Cập cổ đại. Tuy rằng, trạng thái say xỉn vì rượu không được người dân nơi đây coi là biểu hiện của đạo đức, nhưng Carolyn Graves Brown (2010) trong cuốn sách Khiêu vũ cùng Hathor (Dancing for Hathor) đã lưu ý rằng, đó là “Sự say xỉn thánh khiết” (“Holy intoxication”) và trạng thái này đã được khuyến khích, có thể là một liên kết với thế giới của các vị thần11.

Phát hiện khảo cổ học gần đây cho biết, đã tìm thấy ở một ngôi mộ nhỏ rất nhiều mảnh vỡ của các bình gốm đựng bia và rượu vang. Những di vật này đều có dán tên của vua Aha I thuộc triều đại đầu tiên. Trong “Y học Ai Cập cổ xưa” (Ancient Egyptian Medicine), John F. Nunn cho biết, bia và rượu vang đều đã được người Ai Cập cổ sử dụng với ý nghĩa giống như thuốc (beer and wine were both used as carriers for medicines)12. Kết quả của công cuộc khai quật gần đây tại ngôi đền Mut cho biết, dưới thời trị vì của nữ hoàng Hatshepsut (khoảng 1508-1458 trước CN), tháng đầu tiên của năm đã tiến hành chủ đề “Lễ hội say xỉn” (“Festival of Drunkenness”).

*Lễ hội Opet

Dịp đầu năm mới của Ai Cập cổ đại còn diễn ra nghi thức rước thần Amun – Ra trên sông Nile. Đó là nét chính của lễ hội Opet (Opet festival). Trong dịp này, tượng thần Amun – Ra được đặt trong ngôi đền Karnak (isut-Ipet) cùng với Mut (phối ngẫu của mình) và Khons (con trai) được đặt trong các điện thờ khác nhau (a makeshift temple) trên những chiếc thuyền nhỏ, rồi được kéo ra dòng chính của sông. Thuyền được kéo đi từ Karnak đến Luxor ( Thebes).

Đền Luxor đã được xác định có ý nghĩa rất lớn trong việc tôn thờ Tam Hoàng (Amun, Mut và Khons) trong tín ngưỡng Ka Hoàng gia (Royal Ka). Rất nhiều ý kiến cho biết, tín ngưỡng này được xuất hiện từ thời Tân vương quốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác tại ngôi đền do nhóm khảo sát chữ cổ đã trình bày một cách giải thích hoàn toàn mới về đền Luxor và lễ hội Opet hàng năm tuyệt vời của nó13. Những nhà nghiên cứu này đã kết luận rằng Luxor là ngôi đền dành riêng cho các nhà cai trị Ai Cập, hay chính xác hơn, đây là nơi thờ cúng Ka (linh hồn) của các nhân vật trong Hoàng gia. Tượng vua Ramesses II và những pho tượng thờ cúng các vị vua, chính là hiển thị của tín ngưỡng Ka Hoàng gia trong đền thờ này. Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính tham khảo và gợi mở cho các nhà Ai Cập học.

Mặc dù đã xuất hiện những quan điểm trái chiều về đối tượng thờ phụng, nhưng rõ ràng, lễ hội Opet đã được tổ chức trong danh dự của Amun và đánh dấu cuộc hành trình hàng năm của thần trên dòng sông Nile. Khi đến Luxor, những vị thần được xếp đặt với các dịch vụ thực phẩm và đồ uống. Yến tiệc diễn ra trong suốt thời gian lễ hội. Có một nơi rước Pharaoh - người cai trị của Ai Cập (sau thần Amun, Mut và Khonsu), tiến vào bến cảng trong bộ áo da báo. Đám rước này được dẫn đầu bởi vị linh mục của ngôi đền và trở nên náo nhiệt nhờ đội kèn trumpet và đội trống. Thần Amun ở lại Luxor trong 24 ngày trước khi trở lại ngôi đền Karnak và những hoạt động bình thường của năm có thể bắt đầu sau đó.

Người Ai Cập cổ còn có phong tục tặng quà đầu năm mới. Để chào mừng năm mới, các triều thần tặng quà cho Pharaoh với những lời Wepet - Renpet được khắc ghi trên chúng. Về cơ bản, những lời này được dịch là “Chúc mừng năm mới”. Tầng lớp bình dân Ai Cập cũng đã trao đổi quà tặng. Món quà thường thấy là những lá bùa hộ mệnh nhỏ để xua đuổi ma quỷ, dịch bệnh. Lá bùa hộ mệnh Sekhmet (nữ thần đầu sư tử) hoặc Bastet (nữ thần đầu mèo) là món quà phổ biến nhất14 hàm chứa lời cầu chúc may mắn. Người Ai Cập tin tưởng rằng, ngay cả khi các món quà đã nhuốm màu lo lắng, thì bùa hộ mệnh sẽ ngăn chặn được những con quỷ đáng sợ của bệnh dịch, đói kém, hoặc lũ lụt.

Do cuộc sống gắn với sông Nile, nên lễ hội tôn vinh năm mới của người Ai Cập cổ đại luôn chứa đựng các nghi thức tôn giáo mang màu sắc văn hóa nông nghiệp. Không chỉ có tác động quan trọng đến đời sống chính trị - xã hội, những sinh hoạt văn hóa trong lễ hội năm mới đã làm dịu mát tâm hồn của cư dân bản địa đương thời. Đồng thời, các phong tục diễn ra trong dịp này góp phần cố kết tính cộng đồng của cư dân nơi đây, để từ đó họ có thể xây dựng nên nền văn minh đầu tiên của dân tộc mình.   

2. Ngày Tết đương đại ở Ai Cập

Người Ai Cập hiện đại đón năm mới vào ngày 1 tháng 1 và không có những yếu tố truyền thống đặc biệt được kết hợp trong dịp này. Vì phần lớn cư dân theo Hồi giáo, nên đã có ý kiến cho rằng, năm mới của họ được đánh dấu bởi lịch Hồi giáo Hijri (Islamic Hijri calendar). Ở góc độ khác, đã có nhà nghiên cứu nêu quan điểm, lịch Hồi giáo Hijri được đánh dấu lần đầu tiên vào năm 610 – tương ứng với cuộc hành trình từ Mecca đến Medina của nhà tiên tri Mohammed. Ngày nay, tuy được sự trợ giúp của công nghệ, năm mới được biết trước từ rất sớm, nhưng người Ai Cập vẫn duy trì thói quen ngóng đợi sự xuất hiện của mặt trăng lưỡi liềm (Crescent Moon) như là dấu hiệu khởi đầu của một năm. Do phần lớn người Ai Cập theo đạo Hồi, thông điệp năm mới chính thức được bắt đầu phát ra từ nhà thờ Mohammed Ali ở  Cairo. Nhận được tin vui truyền ra, những người ngóng đợi bên ngoài nhà thờ hò reo và dành cho nhau mọi lời chúc mừng tốt đẹp. Sau đó, họ trở về nhà để cùng người thân thưởng thức một bữa tiệc đặc biệt mừng năm mới.

Đêm ngày 31 tháng 12, rất nhiều người Ai Cập tụ tập tại quảng trường Tahrir để chiêm ngưỡng các màn pháo hoa rực rỡ trong niềm hy vọng về một năm mới tốt đẹp hơn. Những ai từng có cơ hội du lịch trên đất nước xinh đẹp và huyền bí này đều có chung cảm nhận, Tết ở Ai Cập là một kỳ nghỉ với sự huyên náo của những lễ hội. Ở Cairo, tinh thần lễ hội được hiển thị với các màn trình diễn xiếc, vũ công, ca sĩ và nhạc sĩ tụ tập từ khắp nơi trên đất nước Ai Cập. Nguồn cung ứng thực phẩm và đồ ngọt trong dịp này rất dồi dào.

Để chào đón lễ hội năm mới với nhiều niềm vui, các thành viên trong gia đình mặc những bộ trang phục mới đầy màu sắc. Ngay cả những người phụ nữ truyền thống với trang phục màu đen theo quy định của Hồi giáo, trong dịp này, họ cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Việc vui vẻ và được ăn uống no nê là một phần quan trọng trong lễ kỷ niệm năm mới của cư dân cổ sông Nile. Vào dịp này, ngay cả những người nghèo nhất cũng cố gắng tổ chức một bữa ăn thịnh soạn. Mặc dù Hồi giáo quy định không ăn thịt, nhưng theo truyền thống, trong bữa tiệc ngày Tết của Ai Cập vẫn có những món ăn được chế biến từ thịt cùng nhiều loại rau (hành tây, tỏi…), các loại trái cây (chà là, sung…). Cá, thịt và gia cầm được chế biến bằng nhiều cách, như ướp muối, phơi khô, nướng hoặc được thực hiện với các món hầm. Theo truyền thống, người Ai Cập thường uống rượu để chúc mừng, nhưng vì đạo Hồi cấm rượu nên họ đã dùng bia để thay thế trong bữa tiệc năm mới. Tuy nhiên, những món ăn hàng ngày cũng như trong các dịp lễ hội của người Ai Cập hiện nay vẫn giữ được một số điểm tương đồng nổi bật với thực đơn của tổ tiên họ trước đây. Có lẽ thế, Peter Der Manuelian trong công trình của mình đã đưa ra bình luận rằng, ẩm thực của cư dân cổ vùng châu thổ sông Nile vẫn trường tồn theo thời gian15.

Tết là dịp để người dân xứ sở Kim tự tháp thưởng thức nhiều món bánh truyền thống. Các bé trai được cho những chiếc bánh có hình tráng sĩ cưỡi ngựa, còn những chiếc bánh hình công chúa với trang phục sặc sỡ thường dành cho các bé gái. Bánh ngọt và các món quà khác luôn được đựng trong những túi giấy nhiều màu sắc, trông vô cùng bắt mắt.

Là kỳ nghỉ dài nên người Ai Cập sẽ dành thời gian đi thăm gia đình, người thân, hàng xóm và bạn bè, cùng với các món quà chúc mừng năm mới. Tại những ngôi làng ở vùng nông thôn, truyền thống này được khắc in đậm nét. Trên đường đi, họ sẽ gia nhập vào đoàn người đi chúc Tết. Khi mọi người trong làng đều có mặt, họ sẽ kết thúc hành trình chúc Tết bằng việc ghé thăm nhà của già làng và tổ chức một bữa tiệc lớn để chúc nhau một năm mới an bình, thịnh vượng. Ở một số địa phương, người dân tụ họp ở một nơi quy định để cùng thưởng thức bữa tiệc năm mới thay vì đến thăm viếng nhà riêng của nhau. 

Làm ồn cũng là một tục lệ rất thú vị trong dịp đón năm mới ở Ai Cập. Người dân nơi đây quan niệm rằng, tiếng động là điều cần thiết để xua đuổi ma quỷ. Do đó, họ đã có nhiều cách để tạo ra những tiếng động, càng to càng tốt, như việc đập các cây gậy vào nhau, đánh trống, thổi kèn, đốt pháo bông... Ở một số vùng nông thôn, người dân có phong tục thờ cúng các loại hạt đã được thu hoạch, như đậu tương, đậu côve, lúa mì... Ngoài ra, họ còn cúng những mầm cây tươi của một số loại cây trồng để tượng trưng cho sự sung túc, dư giả. Người dân sông Nile tin rằng, nếu cung hiến nhiều lễ vật trong các nghi thức tế lễ, những vị thần sẽ giúp cho mùa màng của họ bội thu trong năm mới.

Chú thích

1 Khons (cũng Chonsu, Khensu, Khonsu, Chons hoặc Khonshu) là vị thần Mặt trăng của Ai Cập cổ đại. Tên của ông có nghĩa là “Sự du hành” (“Traveller”) và điều này có thể liên quan đến những chuyến du lịch hàng đêm của mặt trăng trên bầu trời. Cùng với Thoth, ông đánh dấu sự trôi qua của thời gian. Khonsu đã có công trong việc tạo ra cuộc sống mới ở tất cả các loài sinh vật sống. Tại Thebes, ông được thể hiện là một phần của gia đình thần Amun (cha) và thần Mut (mẹ).

2 How the ancient Egyptians Celebrated New Year's, http://historywithatwist.blogspot, 31. 12. 2010.

3 Trong thần thoại Ai Cập, Sopdet là sự thần thánh hóa của Sothis - một ngôi sao mà dường như các nhà Ai Cập học cho là Sirius. Cái tên “Sopdet” ở Ai Cập có nghĩa là “Sự sắc nét”, với ngụ ý so sánh về độ sáng với Sirius - ngôi sao sáng trong bầu trời đêm. Trong nghệ thuật, Sopdet được miêu tả là một người phụ nữ với ngôi sao năm cánh lên đầu. Orion là biểu hiện của Sah. Sah được nhắc đến rất thường xuyên trong những văn bản kim tự tháp với tên gọi là “Cha của các vị thần”.

4 Người Ai Cập có rất nhiều huyền thoại về sự sáng tạo vũ trụ và đều quan niệm rằng vũ trụ được tạo ra từ các vùng nước nguyên sinh của thần Nun; thậm chí theo một số truyền thuyết, tất cả vạn vật sẽ trở lại điểm xuất phát vào ngày tận thế. Không có linh mục hay ngôi đền dành riêng cho Nun, nhưng vị thần này đã được đại diện bởi các hồ nước thiêng liêng của mỗi ngôi đền và thường xuyên được đề cập trong bản khắc tôn giáo. Thần Nun tồn tại trong mỗi hạt nước hình thành nên các nguồn của sông Nile và gây nên ngập lụt hàng năm. Vị thần này cũng được kết hợp với việc đặt nền móng cho tất cả các ngôi đền.

5 Maat – con gái thần Ra, là nữ thần của sự thật, công lý và trật tự vũ trụ. Bà được miêu tả như một người phụ nữ trẻ và xinh đẹp, trong tư thế đứng hoặc ngồi với một chiếc lông vũ trên đầu.

6, 9, 14 Thomas Garnet Henry James (2005), The British Museum Concise introduction to ancient Egypt, Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press, p. 122, p. 117, p. 117.

7 Wepet Renpet Nefert (or to non-ancient Egyptians, Happy New Year!), http://garryshawegypt.blogspot.com, Monday, 31. 12. 2012.

8, 10,15 Manuelian Peter Der (1998), Egypt: The World of the Pharaohs. Cologne Germany: Könemann Verlagsgesellschaft mbH. Bonner Straße, ISBN 3-89508-913-3; p. 399–400, p. 400; p. 126.

11 Carolyn Graves-Brown (2010), Dancing for Hathor: Women in ancient Egypt, Hardcover, p. 103 - 126.

12 John F. Nunn (1996), Ancient Egyptian MedicineBritish Museum Press, London, p. 191 – 205.

13 Lanny Bell (1985), Luxor Temple and the Cult of the Royal Ka”, Journal of Near Eastern Studies (JNES), 44, no. 4,  ISSN: 0022-2968, p. 251.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 1/2016