Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Dầu khí Iran: Vai trò và những vấn đề nảy sinh (Phần 1)
Ngày đăng: 12/03/2013

Phạm Kim Huế
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Là một trong những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đứng hàng đầu thế giới, dầu khí Iran không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia Hồi giáo Trung Đông này mà còn có ảnh hưởng to lớn đối với thị trường dầu mỏ và khí đốt thế giới cũng như có vị trí chiến lược trên bản đồ năng lượng quốc tế. Dầu khí Iran còn là nguyên nhân gây ra những căng thẳng, xung đột nội bộ và quốc tế, là sự tranh giành giữa các tập đoàn xuyên quốc gia nói riêng và giữa các cường quốc trên thế giới nói chung. Để hiểu “ngọn nguồn” nguồn tài nguyên quý giá này của Iran cũng như những ảnh hưởng của nó, bài viết này sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng nguồn năng lượng hiện nay của Iran, cơ hội và thách thức mà dầu khí đem lại đối với đất nước này.
1.  Thực trạng dầu khí Iran hiện nay
   Trữ lượng dầu và khí đốt của Iran
Nằm ở khu vực Trung Đông – nơi có trữ lượng dầu và khí đốt lớn nhất thế giới, Cộng hoà Hồi giáo Iran đang sở hữu nguồn tài nguyên năng lượng quý giá với trữ lượng phong phú. Theo đánh giá thống kê năng lượng của BP tháng 6 năm 2011, trữ lượng dầu của Iran năm 2010 ước tính 137 tỷ thùng, chiếm gần 10% tổng trữ lượng dầu thế giới, còn trữ lượng khí đốt của Iran năm 2010 ước tính 1.045,7 tỷ tỷ m3 chiếm 15,8% tổng trữ lượng khí đốt thế giới. 
Xét về trữ lượng dầu, Iran đứng vị trí thứ tư trên thế giới, sau Saudi Arabia, Venezuela và Canada, đứng vị trí thứ ba trong OPEC và vị trí thứ hai tại khu vực Trung Đông. Masjid-i-Sulaiman là khu vực đầu tiên ở Iran phát hiện có trữ lượng dầu thô lớn vào năm 1908. Gần 80% trữ lượng dầu thô của Iran được phát hiện trước năm 1965. Tính đến cuối năm 1990, trữ lượng dầu của Iran chỉ đạt 92,9 tỷ thùng, nhưng đến cuối năm 2000 đạt 99,5 tỷ thùng, đặc biệt đến cuối năm 2009 đã tăng gần 14%, đạt 137 tỷ thùng1 nhờ gia tăng đầu tư vào các dự án thăm dò và khai thác dầu của Iran. Cho đến nay, Iran đã phát hiện hơn 40 mỏ dầu, trong đó có 27 mỏ dầu trên đất liền và 13 mỏ dầu ngoài khơi có trữ lượng dầu thô lớn nằm ở niềm Tây Nam Khuzestan, sát biên giới với Iraq và khu vực Bắc Caspi. Đây chính là nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến Iran-Iraq năm 1980 và các tranh chấp khác. Gần đây nhất, ngày 9/4/2011, ông Seifollah - Giám đốc điều hành của Công ty dầu khí quốc gia Iran (NIOC) tuyên bố: công ty đã phát hiện thêm 7 mỏ dầu thô với trữ lượng lớn tiềm tàng, trong đó có một mỏ dầu có trữ lượng ước đoán 9 tỷ thùng.  
Xét về trữ lượng khí đốt, Iran đứng vị trí thứ hai trên thế giới sau Nga (1580,8 tỷ tỷ m3, chiếm 23,9% tổng trữ lượng khí đốt thế giới)2 và vị trí hàng đầu tại khu vực Trung Đông. Cụ thể, trữ lượng khí đốt của Iran tính đến cuối năm 1990 mới đạt 17 tỷ tỷ m3, đến cuối năm 2000 tăng hơn 9 tỷ tỷ m3.  Hơn 2/3 trữ lượng khí đốt của Iran nằm rải rác và chưa được phát triển. Các mỏ khí đốt lớn của Iran là Nam và Bắc Pars, Kish và Kangan-Nar. Từ khi kế hoạch phát triển dầu khí Iran khởi động năm 2005, 8 mỏ khí đốt mới đã được phát hiện. Tính đến cuối năm 2009, trữ lượng khí đốt của Iran đạt 29,6 tỷ tỷ m3. Việc áp dụng và đầu tư công nghệ hiện đại trong thăm dò và khai thác khí đốt đã giúp Iran tìm ra các mỏ khí đốt có trữ lượng khổng lồ, tính đến cuối năm 2010 trữ lượng khí đốt của Iran đạt 1.045,7 tỷ tỷ m3.  Đặc biệt trong cuộc họp báo cuối tháng 3/2012, Bộ trưởng Dầu khí Iran Massoud Mirkazemi thông báo: Iran vừa phát hiện một mỏ khí đốt Khayyam có trữ lượng khoảng 260 tỷ m3, trong đó có 210 tỷ m3 có thể khai thác trị giá gần 50 tỷ USD tại thành phố cảng Assaluyeh miền Nam Iran3.
Có thể nói, trữ lượng dầu mỏ và khí đốt hiện nay của Iran  rất phong phú và là một trong những quốc gia trên thế giới sở hữu nguồn tài nguyên năng lượng vô cùng to lớn. Song đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với quốc gia Hồi giáo này bởi vì nguồn năng lượng này không phải là vô hạn. Nếu Iran không có lộ trình cũng như chiến lược sử dụng nguồn năng lượng quý giá này một cách hợp lý và hiệu quả thì trong tương lai nguồn năng lượng này sẽ có nguy cơ cạn kiệt.
     Khả năng sản xuất dầu và khí đốt của Iran
Kể từ khi D’Arcy đặt mũi khoan dầu đầu tiên cho đến nay, ngành công nghiệp dầu khí của Iran đã trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển. Dầu khí đã trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của Iran từ những năm 1920 và  đến giữa thập niên 1970, sản lượng khai thác dầu của Iran đạt mức cao nhất, cụ thể năm 1978 Iran đã sản xuất hơn 5 triệu thùng/ngày. Nhưng từ sau Cách mạng năm 1979, sản lượng dầu của Iran đã giảm khoảng 8%4 đối với các mỏ dầu trên đất liền và 11%5 đối với các mỏ dầu ngoài khơi, một phần do ảnh hưởng từ cuộc chiến Iran-Iraq và một phần do thiếu vốn đầu tư do lệnh cấm vận của Mỹ.
Trong những năm gần đây, đặc biệt trong những năm đầu của thế kỷ XXI, sản lượng dầu khí của Iran có tăng nhưng vẫn chưa vượt được mức đỉnh. Cụ thể năm 2000, sản lượng dầu của Iran đạt 3,855 triệu thùng/ngày và sản lượng khí đốt của Iran đạt 60,2 tỷ m3/năm thì đến năm 2010, sản lượng dầu của Iran đã tăng 4,245 triệu thùng/ngày, còn sản lượng khí đốt của Iran tăng nhanh đạt 138,5 tỷ m3. Chỉ trong vòng 10 năm, sản lượng khí đốt của Iran đã tăng hơn gấp đôi nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng trong nước đang ngày càng tăng cao. Theo kế hoạch phát triển 5 năm của Quốc hội Iran, đến năm 2015 sản lượng dầu của Iran sẽ phấn đấu đạt 5,3 triệu thùng/ngày6. Để đạt được mục tiêu này, Iran đang thúc đẩy khai thác và sản xuất dầu khí của mình, trong đó việc NIOC ký kết hợp đồng “mua bán lại” với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (China National Petroleum Corporation – CNPC) để khai thác và phát triển mỏ dầu phía Bắc Azadegan với trữ lượng dầu thô đã được chứng minh 26 tỷ thùng là một trong những ưu tiên để thực hiện mục tiêu đó (Bảng 1).
Nói đến khả năng sản xuất dầu khí của Iran không thể không đề cập đến hệ thống các nhà máy lọc dầu của Iran. Trong số các nhà máy lọc dầu lớn của Iran, lớn nhất là nhà máy lọc dầu tại Abadan với công suất 400 nghìn thùng/ngày từ năm 2006 đến năm 2009, riêng năm 2010 đạt 421 nghìn thùng/ngày – đây cũng là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Iran. Thứ hai là nhà máy lọc dầu tại Isfahan với công suất 265 nghìn thùng/ngày từ năm 2006 đến năm 2009, và trong năm 2010 đạt 350 nghìn thùng/ngày,  tiếp theo là Badar Abbas với công suất trung bình 232 nghìn thùng/ngày trong các năm 2006, 2007, 2008, 2009, đến năm 2010 tăng lên 322 nghìn thùng/ngày (Bảng 2).
Góp phần tạo nên thành công của ngành công nghiệp dầu khí Iran là mạng lưới đường ống dẫn dầu và khí đốt của Iran. Đây cũng là một trong những lý do khiến sản lượng khai thác dầu khí của Iran tăng. Tính đến nay, Iran đã xây dựng được một mạng lưới đường ống dẫn dầu và khí đốt tương đối hoàn chỉnh, kết nối từ các mỏ dầu khí đến các nhà máy lọc dầu, các nhà máy hoá dầu, các cảng biển và các thành phố của Iran (Bảng 3).
Hiện nay, tại Iran có 13 công ty và tổ chức liên quan đến dầu khí. Đó là: Công ty dầu khí quốc gia Iran (National Iranian Oil Company – NIOC); Công ty khí đốt quốc gia Iran (National Iranian Gas Company – NIGC); Công ty dầu khí quốc gia miền Nam Iran (National Iranian South Oil Company - NISOC); Công ty phát triển dầu Iran (Peroiran Development Company); Công ty dầu khí Pars (Petro Pars); Công ty dầu và khí đốt Pars (Pars Oil and Gas Company); Công ty dầu khí ngoài khơi Iran (Iranian Offshore Oil Company); Công ty quốc tế khí hoá lỏng Narkangan (Narkangan Gas To Liquid Company); Công ty khoan dầu quốc gia Iran (National Iranian Drilling Company); Công ty tư vấn Châu Phi-Persic (Afro-Persia Consultants); Công ty kinh doanh năng lượng quốc tế NaftIran (NaftIran International Energy Business); Hiệp hội các nhà sản xuất thiết bị công nghiệp dầu khí Iran (Society of Iranian Petroleum Industries Equipment Manufacturers). Trong số các công ty đó thì NIOC là công ty dầu khí không chỉ lớn nhất ở Iran mà còn là công ty dầu khí lớn thứ hai trên thế giới, sau Công ty dầu khí của Saudi Arabia xét về trữ lượng dầu quy đổi năm 2007 (300.485 triệu thùng7). NIOC là công ty nhà nước trực thuộc Bộ Dầu khí của Iran. NIOC chịu trách nhiệm khai thác và sản xuất dầu khí của Iran.  Xếp sau NIOC là NISOC. Đây là công ty thành viên của NIOC hiện đang đảm nhận sản xuất 80% trữ lượng dầu nằm ở các tỉnh Khuzestan, Bushehr, Pars, Kohkiluyeh và BoyerAhamd của Iran và chịu trách nhiệm sản xuất khí tự nhiên ở miền Nam Iran. Ngoài ra, NIGC là công ty nhà nước chuyên về xây dựng cơ sở hạ tầng, vận chuyển và phân phối khí đốt của Iran. Nhìn chung, tất cả các công ty dầu khí của Iran đều thuộc sở hữu nhà nước bởi vì Hiến pháp Iran ngăn cấm sở hữu tư nhân về khai thác và sản xuất dầu khí ở Iran. Chính phủ Iran chỉ cho phép các công ty quốc tế tham gia khai thác và phát triển dưới hình thức “hợp đồng mua bán lại” liên doanh với một đối tác Iran. Đây có thể coi là một trở ngại hạn chế năng suất khai thác và sản xuất dầu khí của Iran trong thời gian qua.
   1.3. Mức tiêu thụ (Bảng 4)
Qua các số liệu ở Bảng 4 cho thấy mức tiêu thụ dầu và khí đốt của Iran tăng dần từ năm 2000 đến năm 2010, đặc biệt mức tiêu thụ khí đốt của Iran đã tăng gần gấp đôi trong vòng 10 năm: năm 2000 là 62,9 tỷ m3, đến năm 2010 là 136,9 tỷ m3. Nguyên nhân gia tăng mức tiêu thụ dầu và khí đốt của Iran trong thời gian qua là do dân số của Iran tăng nhanh, đến năm 2010 dân số của Iran đạt 75,35 triệu người8. Một nguyên nhân khác lý giải cho việc mức tiêu thụ dầu của Iran gia tăng đó là ngành công nghiệp sản xuất ô tô của Iran phát triển. Minh chứng, năm 2000 Iran mới chỉ sản xuất hơn 200.0009 chiếc thì đến năm 2010 là gần 1.400.00010 chiếc, tăng gấp 7 lần. Bên cạnh đó, việc đăng ký sử dụng ô tô mới tại Iran từ vài trăm chiếc vào năm 2000 đã tăng lên gần 2 triệu11 chiếc vào năm 2010 cũng góp phần làm gia tăng lượng xăng dầu tiêu thụ của Iran.
Là nước xuất khẩu dầu lớn thứ hai trong OPEC nên phát triển công nghiệp đóng tàu tải trọng lớn là một trong những ưu tiên của chính phủ Iran nhằm thúc đẩy xuất khẩu dầu khí. Đội tàu chở dầu của Iran trong những năm gần đây tăng đáng kể và trở thành quốc gia có đội tàu chở dầu trọng tải lớn nhất OPEC. Nếu như năm 2006, Iran mới chỉ có 32 tàu với trọng tải 6.050 DWT thì đến năm 2010, số lượng tàu chở dầu đã tăng lên 47 chiếc với trọng tải 10.994 DWT và 1 tàu chở khí đốt hoá lỏng với trọng tải 12 nghìn m3 .12 Song song với phát triển đội tàu chở dầu và khí đốt hoá lỏng, Iran cũng tập trung đầu tư các kho bãi, cảng biển để xuất khẩu dầu khí. Đảo Kharg là nơi xuất khẩu chính của Iran có khả năng dự trữ 20,2 triệu thùng dầu thô và công suất vận chuyển là 5 triệu thùng/ngày. Tiếp theo là đảo Lavan với khả năng dự trữ 5 triệu thùng dầu thô và công suất vận chuyển là 200.000 thùng/ngày. Ngoài ra, các cảng tại Abadan, Bandar Mashar và Neka cũng là những cảng chính – nơi được trang bị hậu cần đầy đủ để xuất nhập khẩu dầu khí của Iran từ khu vực Caspia. Iran nằm ở vị trí chiến lược nơi có eo biển Hormuz ở phía Đông Nam của Iran. Đây là tuyến đường xuất khẩu dầu quan trọng, chiếm hơn 40% tổng lượng dầu xuất khẩu của thế giới từ Iran và các nước vùng Vịnh Persic khác.
Dầu và khí đốt là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Iran. Hiện Iran là nước xuất khẩu dầu thô lớn thứ tư trên thế giới sau Saudi Arabia, Nga và UAE. Năm 2006, Iran đã xuất khẩu 2561 nghìn thùng dầu thô/ngày, và 5690 triệu m3 khí đốt, năm 2007 xuất khẩu dầu khí của Iran gia tăng trong đó dầu thô là 2639 nghìn thùng/ngày và khí đốt là 6160 triệu m3. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 khiến lượng xuất khẩu dầu thô và khí đốt của Iran trong năm 2008 và 2009 đều giảm so với những năm trước đó. Cụ thể, xuất khẩu dầu thô năm 2008 là 2574 nghìn thùng/ngày và năm 2009 là 2406 nghìn thùng/ngày, còn xuất khẩu khí đốt năm 2008 là 4110 triệu m3 và năm 2009 là 5670 triệu m3..13 Năm 2010, Iran xuất khẩu 2583 nghìn thùng/ngày, đạt 71.571 triệu USD14, chủ yếu sang các nước châu Á – Thái Bình Dương (1571 nghìn thùng/ngày), châu Âu (878 nghìn thùng/ngày) và châu Phi (134 nghìn thùng/ngày). Hiện nay, Iran đang cung cấp dầu cho các thị trường chính là Sri Lanka (100%), Thổ Nhĩ Kỳ (51%), Nam Phi (25%), Hy Lạp (14%), Italy và Tây Ban Nha (13%), Ấn Độ và Trung Quốc (11%), Nhật Bản và Hàn Quốc (10%)15. Tuy nhiên, Iran phải nhập khẩu gần ½ sản phẩm xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Năm 2009, Iran đã nhập khẩu khoảng 130.000 thùng xăng dầu/ngày, chiếm khoảng 80%16 tổng sản phẩm nhập khẩu của Iran. Các nhà cung cấp xăng dầu cho Iran trong năm 2009 gồm Vitol, Glencore, Trafigura của Thuỵ Sỹ; Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC); Tập đoàn dầu khí độc lập (IPG) của Kuwait; Litasco của Nga; Petronas của Malaysia, Công ty trách nhiệm hữu hạn các ngành công nghiệp tin cậy (RIL) của Ấn Độ; Total của Pháp và Công ty dầu Zhenua của Trung Quốc…
Mặc dù là nước có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai trên thế giới, sau Nga và lớn nhất ở Trung Đông, nhưng hàng năm Iran đều phải nhập khoảng 1-3 tỷ m3 khí đốt để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chẳng hạn năm 2008, Iran đã sản xuất 116,3 tỷ m3 khí đốt, xuất khẩu 4110 triệu m3 nhưng do tiêu thụ 119,3 tỷ m3 nên đã phải nhập khẩu 7100 triệu m3.  Để bù đắp lượng khí đốt thiếu hụt này, Iran chủ yếu nhập khẩu từ Turkmenistan qua đường ống dẫn khí đốt nằm ở phía Bắc biên giới. Sản lượng khí đốt của Iran không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước là do thiếu vốn đầu tư để mở rộng khai thác và phát triển các dự án khí đốt ở Iran. Hơn thế nữa, một số công ty năng lượng quốc tế do lệnh cấm vận đã quyết định đình chỉ các dự án phát triển dầu khí ở Iran, trong đó có Công ty dầu khí Anh (BP), Total, Shell, Repsol YPF, StatoiHydro và Eni của Italia. Nhằm tháo gỡ những khó khăn này, Iran đang hướng đến các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan; các nước Trung Á như Turkmenia, Armenia; các nước trong khu vực Trung Đông như Bahrain và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cả Nga. Chẳng hạn, Iran ký hợp đồng đầu tư với Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia của Trung Quốc trị giá 16 tỷ USD để phát triển mỏ khí đốt Bắc Pars của Iran và xây dựng nhà máy khí đốt tự nhiên hoá lỏng. Tháng 3 năm 2009, Tập đoàn Gazprom của Nga ký hợp đồng trao đổi dầu mỏ với NIOC để vận chuyến khí đốt từ Turkmenistan đến Iran và ngược lại chuyển các sản phẩm dầu khí từ Iran qua Nga. Tháng 12 năm 2009, Tập đoàn dầu và khí đốt tự nhiên của Ấn Độ tuyên bố có kế hoạch đầu tư 10 tỷ USD nhằm phát triển mỏ khí đốt Bắc Pars của Iran để xuất khẩu. NIGC hy vọng hoàn tất hợp đồng xuất khẩu khí đốt tự nhiên với Pakistan trị giá 7,4 tỷ USD trong đó có việc xây dựng đường ống dẫn khí đốt Iran-Pakistan-Ấn Độ hay còn được biết đến là “Đường ống hoà bình”. Thổ Nhĩ Kỳ sẽ giúp phát triển mỏ dầu khí Bắc Pars của Iran. Khí đốt sẽ được chuyển bằng đường biển và đường ống dẫn khí đốt từ Iran đến Thổ Nhĩ Kỳ và từ đó vận chuyển đến các khu vực khác của thế giới. Iran và Bahrain cũng đã ký hợp đồng vận chuyển 1 tỷ m3 khí đốt tự nhiên/ngày cho Bahrain. Hy vọng với dự án khai khác và phát triển dầu khí mới, sản lượng dầu và khí đốt của Iran sẽ được gia tăng không chỉ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn giúp Iran trở thành nhà xuất khẩu dầu khí lớn của khu vực và thế giới.
2.  Vai trò của dầu khí đối với phát triển kinh tế - xã hội Iran
2.1. Phát triển kinh tế - xã hội
Ngành năng lượng đóng vai trò xương sống của nền kinh tế Iran từ thập niên 1920. Trên thực tế, khoảng ¼ nền kinh tế của Iran dựa vào xuất khẩu dầu khí và 70% ngân sách nhà nước chủ yếu dựa vào nguồn thu dầu khí.
Dầu khí tạo điều kiện để Iran xây dựng và phát triển một mạng lưới đường ống dẫn dầu và khí đốt khổng lổ từ các mỏ dầu khí đến các nhà máy hoá dầu, các cảng biển và các khu dân cư của Iran. 6,5 triệu hộ gia đình Iran đã được hưởng lợi từ mạng lưới đường ống dẫn khí đốt tự nhiên. Dầu khí còn là động lực giúp Iran phát triển ngành công nghiệp đóng tàu tải trọng lớn, hiện nay Iran là quốc gia sở hữu một đội tàu chở dầu và khí đốt hoá lỏng tải trọng lớn nhất OPEC gồm 48 chiếc, trong tương lai gần, Iran sẽ phấn đấu gia tăng đội tàu này lên 60 chiếc. Hơn thế nữa, để thúc đẩy xuất khẩu dầu thô, các cảng biển nước sâu của Iran đã được đầu tư xây dựng và nâng cấp một cách hệ thống và hiện đại. Đáng kể nhất phải kể đến cảng nước sâu ở đảo Kharg với công suất vận chuyển 5 triệu thùng dầu thô/ngày và khả năng dự trữ 20,2 triệu thùng dầu thô, được coi là một trong những cảng biển nước sâu lớn nhất ở vùng Vịnh.
Doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ  từ năm 2006 đến năm 2008 tăng dần, cụ thể năm 2006 đạt 57,719 tỷ USD; năm 2007 đạt 66,214 tỷ USD; năm 2008 đạt 87,050 tỷ USD,  nhưng đến năm 2009 có sự giảm sút, chỉ đạt 56,341 tỷ USD do khủng hoảng kinh tế toàn cầu17. Doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ năm 2010 đã tăng hơn đạt 71,571 tỷ USD. Nhờ doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ, nên chính phủ Iran có cơ hội thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội của mình. Chẳng hạn, Quỹ ổn định dầu (Oil Stabilization Fund –OSF) được lập nhờ doanh thu từ xuất khẩu dầu khí nhằm hỗ trợ các chính sách tài chính và tiền tệ mở rộng của chính phủ Iran vào năm 2001. Nhằm thực hiện lời hứa “đem tiền dầu lửa đến cho mọi người”, chính phủ của Tổng thống Ahmadinejad tiến hành cung cấp các gói trợ cấp công cộng mở rộng gồm trợ cấp xăng dầu, lương thực và nhà ở cho người dân Iran. Toàn bộ các gói trợ cấp chiếm hơn 25% GDP của Iran, trong đó riêng trợ cấp năng lượng chiếm khoảng 12% GDP. Năm 2006, nội các Tổng thống Ahmadinejad thành lập Quỹ Lòng thương Imam Reza 1,3 tỷ USD18 nhằm giúp thanh niên Iran kết hôn, mua nhà và học tập. 0,2% nguồn thu từ dầu mỏ của Iran sẽ được sử dụng để phát triển các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng khoảng 1% nhu cầu tiêu dùng năng lượng của quốc gia Hồi giáo này trong 5 năm tới. Bên cạnh đó, công nghiệp quốc phòng và chương trình hạt nhân của Iran phát triển được như ngày nay là nhờ nguồn thu đôla dầu lửa.  Minh chứng, hiện nay Iran có 545.000 quân lính, hơn 12.000 trang thiết bị vũ khí bộ binh, hơn 1000 máy bay quân sự và gần 250 tàu chiến các loại , xếp thứ 12 về sức mạnh quân sự trên thế giới (theo Global Fire Powe –GFP). Trong năm tài khoá 2012, Iran dự tính sẽ tăng gấp đôi ngân sách cho quốc phòng.
Có thể nói rằng dầu khí không chỉ giúp Iran xây dựng hạ tầng cơ sở công nghiệp dầu khí mà còn giúp Iran phát triển các ngành công nghiệp khác như công nghiệp đóng tàu, công nghiệp quốc phòng và chương trình hạt nhân của mình. Nguồn thu dầu lửa đã giúp chính phủ Iran có tài chính để thực hiện các chương trình trợ cấp xăng dầu, lương thực, nhà ở cho người dân, song đây cũng đồng thời là gánh nặng đối với ngân sách nhà nước khi mà nguồn cung dầu khí của Iran đến năm 2055 có nguy cơ cạn kiệt.
2.2. Tạo vị thế trong khu vực và trên thế giới
Với trữ lượng lớn về dầu khí, Iran có một vị thế quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Là một trong những nước đầu tiên sáng lập tổ chức OPEC, Iran đã có những đóng góp đáng kể cho thành công của OPEC. Với sản lượng dầu thô đạt đỉnh 5,1 triệu thùng/ngày trong thập kỷ 1970, Iran đã trở thành nước xuất khẩu dầu thô lớn thứ hai trong OPEC, sau Saudi Arabia. Vị thế của Iran được nâng cao khi Iran giữ chức chủ tịch luân phiên của OPEC. Vị trí này không chỉ giúp Iran có tiếng nói quyết định trước những vấn đề cấp bách liên quan đến cung cầu dầu lửa trong khối và trên thế giới mà còn tạo điều kiện cho Iran gia tăng “sức mạnh mềm”.
Trong lĩnh vực năng lượng, lợi ích của Iran ngày càng tăng lên bao gồm: củng cố, mở rộng việc sản xuất và vận chuyển năng lượng, mở rộng thị trường xuất khẩu khí đốt của Iran ra thị trường châu Âu, châu Á. Lợi thế địa kinh tế đã tạo điều kiện để Iran tăng cường vị thế tại biển Caspi và trở thành một trung tâm trung chuyển năng lượng trong khu vực. Trước những bất đồng giữa các bên có liên quan trong việc phân bổ tài nguyên trên biển, Iran đã có các hoạt động tích cực nhằm thể hiện mình là nhân tố chính trong việc phân chia tài nguyên khoáng sản của vùng biển Caspi. Đối với các dự án hợp tác chung trong khu vực như mạng lưới đường ống dẫn khí đốt, mạng lưới đường sắt chung cho các nước Trung Á và Iran, thì vai trò của Iran là giúp các bên tìm được tiếng nói chung nhằm tạo ra lợi ích tương đồng giữa các quốc gia, đồng thời tỏ rõ trách nhiệm cung cấp nguồn dầu khí cho đường ống mới nối Iran với Armenia, Azerbaijan và Turkmenistan. Iran đã cung cấp các tuyến đường ngắn nhất trong việc trung chuyển dầu và khí đốt của các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và vùng biển Caspi ra thị trường thế giới thông qua hai dự án xây dựng hai đường ống dẫn dầu mới, đó là đường ống dẫn từ các mỏ dầu ở Kazakhstan đến bờ biển Iran của vịnh Oman qua Turkmenistan và đường ống vế phía nam Neka-Jassk từ biển Caspi tới các cảng Vịnh Oman với công suất 1 triệu thùng/ngày. Cùng với việc đầu tư nâng cấp các đường ống dẫn dầu, Iran còn chú trọng phát triển đội tàu chở dầu với công suất lớn nhằm chiếm lĩnh lĩnh vực quan trọng này và hiện nay được coi là quốc gia sở hữu đội tàu chở dầu tải trọng lớn nhất OPEC.  Rõ ràng các dự án năng lượng lớn, tập trung lợi ích kinh tế, chính trị và nguồn lực của các nước Capsi đều thông qua Iran, đây là một lợi thế không nhỏ của Iran trong việc thực hiện các dự án phát triển ngành năng lượng dầu khí.
Iran tích cực mở rộng thị trường quốc tế, tuyên bố là một thành viên mới trong thị trường khí đốt Á-Âu, và điều này giúp Iran tạo ảnh hưởng lớn đến bản đồ năng lượng thế giới. Đặc biệt trong mối quan hệ căng thẳng giữa Iran và phương Tây, dầu khí đang trở thành một yếu tố quan trọng giúp Iran duy trì quan điểm cứng rắn của mình đối với vấn đề hạt nhân. Việc Iran tuyên bố ngừng xuất khẩu dầu cho châu Âu bao gồm các nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Italia cho thấy Iran sẵn sàng dùng vị thế của mình là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai OPEC để đáp trả những biện pháp trừng phạt do Liên minh châu Âu và Mỹ ban hành.
2.3.  Thu hút đầu tư nước ngoài
Luật quốc hữu hóa dầu khí năm 1957, Luật dầu khí năm 1974 và lệnh cấm vận quốc tế đối với Iran đã không làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Iran đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Tháng 3/2007, Công ty năng lượng Thuỵ Sỹ EGL đã ký hợp đồng xuất khẩu khí đốt hoá lỏng (LNG) với NIGC trị giá 10 tỷ Euro trong vòng 25 năm bắt đầu từ năm 2011. Đây có thể coi là hợp đồng khí đốt lớn thứ hai của châu Âu, hàng năm Thuỵ Sỹ sẽ mua 5,5 tỷ m3 khí đốt tự nhiên của Iran. Tháng 2/2008, Công ty khí đốt Quốc gia Nga Gazprom ký thành lập một liên doanh với Iran để phát triển mỏ khí đốt ngoài khơi Bắc Pars của Iran trong đó Iran sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng xuất khẩu khí đốt. Tháng 4/2008, NIGC hoàn tất hợp đồng xuất khẩu khí đốt tự nhiên với Pakistan trị giá 7,4 tỷ USD, trong đó bao gồm cả việc đầu tư xây dựng “đường ống hoà bình Iran-Pakistan-Ấn Độ”. Tháng 11/2008, Công ty Steiner của Đức có kế hoạch xây dựng 3 nhà máy LNG tại Iran trị giá 147 triệu USD. Tháng 12/2008, Iran đồng thời ký hợp đồng với Tập đoàn SKS của Malaysia trị giá 14 tỷ USD gồm có đầu tư xây dựng một nhà máy LNG. Tháng 12/2009, Công ty dầu và khí đốt của Ấn Độ (ONGC) và Iran có kế hoạch đầu tư 10 tỷ USD phát triển mỏ khí đốt Bắc Pars của Iran và một nhà máy LNG để vận chuyển khí đốt Bắc Pars xuất khẩu. Là quốc gia nhập khẩu hơn 51% lượng dầu của Iran nên Thổ Nhĩ Kỳ cũng rất chú trọng đầu tư các dự án sản xuất và xuất khẩu khí đốt của Iran trong đó có việc đầu tư phát triển mỏ dầu khí Bắc Pars.  Nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng về năng lượng vì tăng trưởng “nóng” của Trung Quốc, ngày 31/7/2010, Trung Quốc quyết định đầu tư khoảng 40 tỷ USD vào ngành dầu khí của Iran, trong đó đăng ký đầu tư vào các dự án hoá dầu, lọc dầu và xây dựng đường ống dẫn dầu và khí đốt trị giá 10 tỷ USD và sẽ đầu tư thêm 29 tỷ USD vào các dự án thăm dò và khai thác dầu khí tại Iran.