Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Nền nông nghiệp Zambia và tiềm năng hợp tác với Việt Nam
Ngày đăng: 07/05/2013

I. KHÁI QUÁT ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI ZAMBIA
1. Vị trí địa lý
Zambia là một quốc gia nằm sâu trong đất liền ở khu vực miền Nam châu Phi với diện tích 752,6 nghìn km2. Các nước láng giềng của Zambia  bao gồm CHDC Congo ở phía bắc, Tanzania ở Đông Bắc, Malawi ở phía Đông, Mozambique, Zimbabwe, Botswana, Namibia ở phía Nam và Angola ở phía Tây. Thủ đô của Zambia là Lusaka.
2. Dân số
Dân số Zambia khoảng 12,9 triệu dân (theo thống kê năm 2009), trong đó dân thành thị chiếm 43,9 %. Các tộc người ở Zambia bao gồm: Bemba 39%, Maravi 20%, Tonga 14,8 %, Barotze 7,5 %, Mambwe 3,4 %, Tumkuba 3,7 %.
3. Đất đai
Đất đai Zambia được chia thành ba vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu dựa theo lượng mưa hàng năm, ngoài ra còn có những biến thể bên trong mỗi khu vực dựa trên các yếu tố như loại đất, nhiệt độ, lượng mưa và độ cao. Khu vực đầu tiên bao gồm các phần của góc Tây Nam và những thung lũng chính như thung lũng Gwembe, Zambezi và thung lũng Luangwa. Khu vực này đất đai luôn khô hạn lượng hữu cơ và chất dinh dưỡng trong đất thấp và lượng axit cao.
Khu vực thứ hai kéo dài tới phần trung tâm của đất nước và được chia thành hai tiểu vùng: các cao nguyên bị thoái hóa ở phía Đông Nam, Trung Nam, Tây Nam, Kalahari Sands và vùng lũ ở các sông Zambezi ở phía Tây. Đất ở Kalahari Sands có ít tiềm năng nông nghiệp và chủ yếu là rừng.
Khu vực thứ ba nằm ở phía Bắc, đất đai ở đây có xu hướng thẩm thấu và thích nghi với thời tiết cao, độ ẩm của đất thấp.
4. Thời tiết
Mặc dù Zambia nằm trong khu vực nhiệt đới, nhưng khí hậu lại thay đổi theo độ cao của đất nước, nhìn chung là thuận lợi cho đời sống của người dân. Mùa hè lượng mưa giảm và nhiệt độ tăng cao. Lượng mưa (chỉ tập trung trong 5 tháng) thay đổi theo vùng sinh thái nông nghiệp nhưng thường đi kèm với những cơn bão và mưa lớn, gây nên bề mặt đất bị cứng và  xói mòn. Các khu vực khô hạn nhất nhận được lượng mưa hàng năm ít hơn 30 inch (800mm), trong khi lượng mưa ở khu vực ẩm ướt nhất thường vượt quá 40 inch (1.000mm), đôi khi lượng mưa vượt quá 50 inch (1.400mm) ở phía Đông Bắc. Nhiệt độ thay đổi theo độ cao, nhiệt độ cao nhất hàng ngày xảy ra ở thung lũng Luanga và phía Tây Nam. Khu vực mát mẻ nhất là ở cao nguyên Nyika ở phía đông Bắc biên giới Malawi. Trong những tháng lạnh (tháng 6 và tháng 7) khu vực phía tây của Zambia là khu vực lạnh nhất, ở Sesheke phía Tây Nam có băng tuyết trên mức trung bình là 10 ngày/năm.
Mặc dù sự tương phản chính là giữa mùa mưa và những tháng khô hạn, nhưng Zambia vẫn có ba mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 cho đến tháng 4, khi nhiệt độ ở khoảng 200C và trong thời gian này đất nước nhận được lượng mưa hàng năm lớn. Sự di chuyển vào Zambia của khối không khí ẩm từ phía Tây Bắc Congo báo hiệu sự bắt đầu của mùa mưa. Sự thay đổi từ điều kiện hanh khô sang ẩm ướt là chuyển tiếp hơn là đột ngột. Tháng 12 và tháng Giêng là tháng ẩm ướt nhất. Mây che phủ làm giảm nhiệt độ tối đa nhưng cũng hạn chế được nhiệt độ bức xạ vào ban đêm, vì vậy nhiệt độ tối thiểu được lưu giữ là tương đối cao. Độ ẩm cũng tương đối cao, điển hình là 95% vào buổi sáng sớm, nhưng lại giảm tương đối xuống còn 60-70% vào giữa chiều.
Mùa khô mát kéo dài từ tháng 5 cho đến tận tháng 8, với nhiệt độ tối đa khác nhau từ 15 – 200C, buổi sáng và tối nhiệt độ có thể hạ thấp đáng kể. Mặt trời ở phía trên bán cầu Bắc, vì vậy nhiệt độ thấp, tháng 7 thường là tháng lạnh nhất.
Mùa khô nóng kéo dài từ tháng 9 cho đến tháng 10, khi nhiệt độ tối đa từ 23 – 270C. Đây là thời gian nhiệt độ tăng nhanh, chỉ trong 2 tháng, tháng 7 – tháng lạnh nhất và tháng 10 – tháng nóng nhất. Thông thường vào giữa tháng 10 không khí lạnh di chuyển trong đại dương, dẫn đến độ ẩm tăng lên và hình thành các đám mây. Nhiệt độ cao và độ ẩm tăng đã tạo ra khoảng thời gian khó chịu nhất trong năm, mặc dù những cơn mưa đầu mùa đã rửa sạch bụi của mùa khô.
5. Lịch sử
Từ thế kỷ XV, người Balunda thành lập quốc gia Lunda hùng mạnh bao gồm lãnh thổ Angola, Congo, Zambia và một phần Cộng hoà Dân chủ Congo ngày nay. Cuối thế kỷ XVIII, quốc gia Lunda bị suy yếu do sự thâm nhập các thương gia buôn bán nô lệ, quyền lực của quốc vương Lunda giảm sút nên một loạt các vương quốc nhỏ đã hình thành. Khoảng năm 1835, người Sotho lập một vương quốc riêng. Đến 1889, Cecil Rhodes, nhà triệu phú người Anh được Hoàng gia Anh trao quyền buôn bán và khai thác mỏ vùng lãnh thổ thuộc  Zambia, Zimbabwe, Malawi ngày nay. Đầu thế kỷ XX, Cecil Rhodes ký một hiệp ước với Quốc vương người Sotho và lập thuộc địa riêng mang tên Rhodesia Bắc. Năm 1924, Vương quốc Anh kiểm soát trực tiếp vùng Rhodesia Bắc (Zambia), Rhodesia Nam (Zimbabwe) và Nyasaland (Malawi), giao cho toàn quyền Anh cai trị.
Năm 1937 tại các khu mỏ có gần 4 vạn lao động người Phi làm việc, công nhân đã thành lập công đoàn và đây là tổ chức tiền thân của Đại hội dân tộc Phi Rhodesia Bắc (NRANC). Năm 1952, nhà giáo Kenneth Kaunda trở thành Tổng thư ký NRANC. Năm 1953, do bất đồng nội bộ, ông K.Kaunda tách ra lập Đại hội dân tộc Phi Zambia (ANCZ) chủ trương đấu tranh giành độc lập. Năm 1959, Đại hội dân tộc Phi (ANCZ) bị cấm hoạt động và ông K. Kaunda bị bắt vào tù. Năm 1960, ông K. Kaunda được trả tự do và đã phối hợp với những người cộng sự thành lập Đảng Độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) do ông làm Chủ tịch. Năm 1963, Chính phủ Anh buộc phải chấp nhận yêu sách của các phong trào độc lập dân tộc, giải tán Liên bang (gồm Rhodesia Bắc, Rhodesia Nam và Nyasaland).
Tháng 10/1964, Đảng Độc lập Dân tộc Thống nhất (UNIP) giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử, ông K.Kaunda lên làm Tổng thống, tuyên bố Rhodesia Bắc độc lập, lấy tên nước là Cộng hoà  Zambia (24/10/1964).
6. Thành phần sắc tộc và ngôn ngữ
Hầu hết người Zambia nói ngôn ngữ Bantu của hệ ngôn ngữ Niger-Congo và có nguồn gốc từ những người làm nông nghiệp và sử dụng kim loại. Tổ tiên của người Zambia đã đến và định cư trên khu vực này trong hơn 2.000 năm. Những truyền thống văn hóa ở phía Đông Bắc và Tây Bắc cho thấy ảnh hưởng và sự di cư từ các lưu vực sông Congo. Ngoài ra, còn có con cháu của nhưng thợ săn, những người hái lượm mà dường như đã bị đẩy trở lại sa mạc Kalahari, đầm lầy Bangweulu và Lukanga. Vào thế kỷ XIX, kẻ xâm lược đến từ phía nam: người Ngoni định cư ở phía Đông, trong khi người Kololo lại cai trị người Lozi ở thung lũng Zambezi. Người châu Âu bắt đầu xâm nhập vào Zambia với số lượng lớn trong cuối thế kỷ XIX.
Mặc dù hầu hết người Zambia đều có nguồn gốc Bantu nhưng các  loại hình di dân phức tạp đã tạo ra nhiều loại ngôn ngữ và văn hóa. Nhóm ngôn ngữ Bemba là phổ biến nhất, chiếm hơn 1/5 dân số, và được phân bố ở miền Bắc trung bộ, miền Bắc, tỉnh Luapula và Copperbelt. Nhóm ngôn ngữ Nyanja (hay còn gọi là Chewa) và Tonga cũng rất quan trọng, chiếm hơn 1/10 dân số. Ngôn ngữ Nyanja được nói ở các tỉnh miền Đông và miền Trung trong khi ngôn ngữ Tonga được nói chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và phía Tây.
Hiện vẫn còn một số mối liên hệ giữa sự phân bố các nhóm sắc tộc chính và sự phân chia hành chính của đất nước ở các khu vực nông thôn và các khu vực dọc theo tuyến đường sắt. Khu vực phía Tây bị cai trị bởi người Lozi. Xã hội Lozi  được tập trung dưới sự lãnh đạo của một vị vua, nhưng cộng đồng  dân cư vẫn tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng ly khai.
Ở các tỉnh phía Tây Bắc, giáp biên giới Angola và Congo, không có nhóm thống trị duy nhất, các dân tộc ở đây bao gồm người Lunda ở phía Nam, người Chokwe, Luchazi, Mbunda, Ndembu và người Kaonde.
Phía Nam là quê hương của dân tộc Ila-Tonga, trong đó có 12 nhóm riêng biệt nói những ngôn ngữ địa phương. Khu vực phía Bắc lại bị cai trị bởi người Bemba, những người đã thành lập một vương quốc rộng lớn trong thế kỷ XIX. Khu vực này là nguồn lao động chính cho khai thác mỏ, và Bemba đã trở thành ngôn ngữ chung của Copperbelt và được nói nhiều nhất trong cả nước. Hầu hết các ngôn ngữ ở phía Đông Bắc có liên quan chặt chẽ với các ngôn ngữ ở Tanzania và Malawi.
Khu vực phía Đông là quê hương của người Nsenga, Chewa, Kunda và Ngoni. Nông nghiệp là hoạt động chính ở khu vực này, các ngôn ngữ chính là Nyanja. Ngôn ngữ này cũng được nói ở Malawi và là ngôn ngữ chung ở Lusaka.
Khu vực Copperbelt (trước tây là miền Tây) là vị trí của ngành công nghiệp khai thác mỏ. Dân số bao gồm tất cả những người từ mọi miền ở Zambia, cũng như một vài dân tộc từ các nước láng giềng.
Dân số không phải nguồn gốc Bantu có xu hướng tập trung ở các thị trấn, các khu vực thương mại nông nghiệp và ở những khu vực giống với khu vực đường ray. Nhóm sắc tộc này bao gồm những người châu Âu và con cháu của họ, trong đó có một số người mang quốc tịch Zambia. Sau khi Zambia giành được độc lập năm 1964, nhiều người vẫn còn ở lại khu vực này, nhưng số lượng ngày càng giảm dần. Nhiều ngôn ngữ và tiếng địa phương đã được xác định ở Zambia. Có 7 ngôn ngữ chính thức được nói như tiếng mẹ đẻ là: Bemba, Nyanja, Lozi, Tonga, Luvale và Kaonde. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của chính phủ và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục, thương mại và pháp luật.
7. Kinh tế
Zambia có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đồng (trữ lượng 1 tỷ tấn, chiếm trên 50% thu nhập ngoại tệ xuất khẩu). Zambia còn có kẽm, coban, vàng, uranium, chì … Trong thập kỷ 1980s, giá đồng trên thị trường giảm nên đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế,  Zambia không có đường biển nên gặp khó khăn trong xuất nhập khẩu hàng hoá. Công nghiệp khai khoáng khá phát triển; nông nghiệp có các ngành chăn nuôi gia súc, trồng bông, rau quả, ngô, thuốc lá, mía đường. Tuy nhiên, hiện nay Zambia còn phải nhập khẩu máy móc, dầu khí và lương thực, nhất là gạo.
Tỷ trọng các ngành trong GDP: nông nghiệp thu hút 85% lao động nhưng chỉ đóng góp vào 21,9% GDP, công nghiệp thu hút 6% lao động và đóng góp vào 29,5% GDP, dịch vụ đóng góp 48,8% (2005).
Trước đây, Zambia xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung, nông nghiệp trì trệ, chăn nuôi, trồng trọt không phát triển; khi giá xuất khẩu đồng và khoáng sản khác giảm, nhu nhập sút kém, kinh tế lâm vào khó khăn, khủng hoảng dẫn đến những biến động về kinh tế xã hội. Từ năm 1990 - 1991, Zambia bắt đầu áp dụng cải cách kinh tế - xã hội theo hướng chuyển sang kinh tế thị trường, cải cách cơ cấu, thúc đẩy tư nhân hoá, chú trọng phát triển nông nghiệp, mở rộng khai khoáng, tranh thủ vốn đầu tư, kỹ thuật của Mỹ, Tây Âu, WB, IMF để khôi phục kinh tế. Mấy năm gần đây, kinh tế  Zambia từng bước được phục hồi.
Năm 2008, tổng sản phẩm quốc nội của Zambia đạt 15,23 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng 6,2% so với năm 2007. Và GDP bình quân đầu người đạt 1.301 USD/người/năm. Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức 11,8%. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao là khoảng 50%.
Về ngoại thương, năm 2008 Zambia xuất khẩu 5,63 tỷ USD hàng hoá trong đó các sản phẩm xuất khẩu chính là đồng,côban (64%), điện, sợi thuốc lá, hoa, bông. Các đối tác xuất khẩu là Tanzania (14,1%), Nam Phi (13,2%), Trung Quốc (9,1%), Nhật Bản (7,9%), Thái Lan (7,9%), Thụy Sỹ (7,3%), Bỉ (6,7%), Malaysia (4%). Năm 2008, Zambia nhập khẩu khoảng 4,42 tỷ USD các loại hàng hoá như máy móc, thiết bị vận tải, sản phẩm dầu, điện, phân bón, thực phẩm, dệt may. Các đối tác mà Zambia chủ yếu nhập khẩu hàng hoá là: Nam Phi (50,3%), Zimbabwe (13,2%), các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (5,3%).
II. KHÁI QUÁT NỀN NÔNG NGHIỆP ZAMBIA
Trong những năm đầu khi Zambia giành được độc lập, nền nông nghiệp Zambia ở trong tình trạng trì trệ, thấp kém, sản xuất nông nghiệp tính trung bình chỉ chiếm 14% GDP, trong khi đó ngành công nghiệp và chế tạo chiếm khoảng 83% GDP. Có thể nói, ngành nông nghiệp không nằm trong nhóm ngành mạnh ở Zambia. Chính vì vậy, chính phủ Zambia đã không quan tâm đến ngành nông nghiệp mà chỉ tập trung vào những ngành có ảnh hưởng lớn về kinh tế và chính trị như ngành công nghiệp và chế tạo.
Bắt đầu từ những năm 1970, Zambia đã dựa vào những chương trình nghiên cứu nông nghiệp để nâng cao năng suất nông nghiệp. Trong những giai đoạn đầu của chương trình, các nghiên cứu được hướng vào việc phát triển các công nghệ nâng cao năng suất như phân bón, thuốc trừ sâu và những cây trồng cần đầu tư nhiều vốn. Trong suốt quá trình này, việc nghiên cứu được thực hiện trên các trạm nghiên cứu có mô hình khác với những cánh đồng của người nông dân Zambia. Nói chung, các nghiên cứu đã cho kết quả tốt và năng suất nhanh chóng chỉ trong thời gian ngắn.
Đến cuối những năm 1970, Bộ trưởng Nông nghiệp Zambia nhận ra rằng, những nhu cầu cơ bản của những tiểu chủ vừa và nhỏ đã không được đề cập đến trong những nghiên cứu thực hiện trước đó. Năm 1978, với sự giúp đỡ của Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (CGIAR), chính phủ Zambia đã thực thi hệ thống nông trại nghiên cứu và mở rộng, tiến gần đến sự phát triển nông nghiệp.
Từ năm 1990, Zambia bắt đầu áp dụng cải cách kinh tế - xã hội theo hướng chuyển sang kinh tế thị trường, cải cách cơ cấu, thúc đẩy tư nhân hóa, chú trọng phát triển nông nghiệp, mở rộng khai khoáng, tranh thủ vốn đầu tư, kỹ thuật của Mỹ, Tây Âu, WB, IMF để khôi phục kinh tế. Nông nghiệp Zambia từng bước được phục hồi, và trở thành “xương sống” của nền kinh tế Zambia.
1. Trồng trọt
Zambia được ưu đãi với đất đai rộng lớn khoảng 75 triệu ha, trong đó 40-50% phù hợp cho việc trồng trọt nhiều loại cây trồng truyền thống và không truyền thống. Mặc dù tiềm năng mở rộng nông nghiệp vào các vùng đất màu mỡ là tương đối cao, nhưng chỉ 10-15% tiềm năng đó được khai thác để trồng trọt. Trên những khu đất đó, các trang trại được sắp xếp theo quy mô từ các trang trại gia đình cho đến các trang trại thương mại lớn. Nông dân sử dụng cuốc và một vài dụng cụ lấy từ bên ngoài và họ trồng chủ yếu là những cây nông sản như: ngũ cốc (chủ yếu là ngô), lúa mì, kê, sắn, lạc. Ngoài ra, nông dân cũng trồng rất nhiều bông, nguyên liệu được sử dụng cho công nghiệp dệt trong nước cũng như xuất khẩu. Các trang trại thương mại lớn và vừa thu lợi từ việc cải tiến giống, phân bón và sức kéo của động vật. Các trang trại có quy mô lớn chủ yếu được dựng dọc theo những khu vực phát triển và do người châu Âu và con cháu của họ cai trị và điều hành. Đây là kiểu mẫu đã có từ thời thuộc địa khi mà những người đàn ông châu Phi được thuê để làm việc trong những hầm mỏ, còn những người châu Âu thì làm việc trên những cánh đồng. Những người này được nhận những vùng đất màu mỡ dọc theo khu vực phát triển trong khi những người châu Phi bị tái định cư ở những vùng đất ít màu mỡ.
Ngô là sản phẩm lương thực chủ yếu và chiếm đa số trong những khu vực trồng trọt trên các trang trại ở Zambia. Bắt đầu từ những năm 1920, khi một số lượng nhỏ những người nhập cư da trắng định cư trên các trang trại thì ngô luôn là cây trồng chính trên các trang trại thương mại. Về mặt kinh tế, ngô là nông sản chi phối cả nông nghiệp thương mại và tiểu thương. Quan trọng hơn, nó chi phối cả suy nghĩ chính trị về nông nghiệp, về mối quan hệ giữa người nông thôn và thành thị. Các vành đai ngô ở Zambia bao gồm khu sinh thái nông nghiệp 2 (lượng mưa trung bình và độ cao so với mặt nước biển cao) và một số vùng của khu 3 (lượng mưa và độ cao so với mặt nước biển cao). Những khu vực này bao phủ gần hết các cao nguyên ở miền Nam, miền Trung, Lusaka, miền Đông và các tỉnh phía Bắc, và một phần phía Nam của Copperbelt. Ở ba khu vực khác (Luapula, khu vực Tây Bắc và Tây), mặc dù ngô vẫn được trồng, nhưng cây sắn và các cây trồng khác lại chiếm ưu thế.
Việc sản xuất ngô bắt đầu được mở rộng nhanh từ sau khi Zambia giành độc lập năm 1964 cho tới cuối những năm 1980. Nhờ vào những nguồn hỗ trợ đầu vào, tăng lượng phân bón, và đặc biệt là cải thiện giống ngô, sản lượng ngô đã tăng đột ngột. Trong suốt thời kỳ những năm 1970, 1980 và đầu những năm 1990, ngô dường như là nông sản thống trị mô hình sản xuất nhỏ. Ngô chiếm 76% tổng sản lượng sản xuất nông hộ nhỏ, trong khi tổng thu nhập cây trồng từ sắn là 10%, và các cây trông khác dưới 3%..
Tuy nhiên, đến những năm 1990, trợ cấp đầu vào, trợ cấp tín dụng, thị trường đầu ra cho nông nghiệp bị sụt giảm, giá ngô giảm mạnh cùng với sự giảm sút mạnh về thu nhập của đồng, chính phủ Zambia ngày càng phụ thuộc vào các khoản vay nước ngoài và dẫn đến việc mất đi sự kiểm soát các chính sách nông nghiệp. Sản xuất ngô đã bắt đầu bị thu hẹp. Nông dân không còn đủ khả năng để mua đầu vào và các thương nhân không còn thấy cần thiết để mua hàng từ những nơi xa hơn. Trong suốt những năm 1990, lượng phân bón bình quân được sử dụng trên một ha đất canh tác đã giảm khoảng 2/3. Những nông dân nghèo hơn rút về sản xuất tự cung tự cấp các loại cây trồng yêu cầu đầu vào ít hơn, chẳng hạn như sắn. Chỉ trong vòng 10 năm, diện tích trồng ngô đã giảm xuống đáng kể. Năm 1980, diện tích trồng ngô khoảng 1 triệu ha, chiếm 76% diện tích trồng trọt, đến năm 1999, diện tích này đã giảm xuống còn 585.000 ha, giảm 43%.
Khi tầm quan trọng của ngô giảm cả về năng suất và diện tích, các cây trồng khác đã gia tăng thị phần của nó trong đời sống của người Zambia. Trong số các loại cây trồng đó, quan trọng nhất là 2 loại cây trồng thu hoa lợi là bông và lạc, và những loại cây có rễ chống lại hạn hán là sắn và khoai lang. Trong khoảng thời gian 12 năm giữa vụ mùa năm 1990/1991 và vụ mùa 2002/2003, đóng góp của ngô trong tổng sản lượng cây trồng đã giảm từ 76% xuống 55%. Trong khi đó đóng góp của sắn tăng từ 10% lên 26%, diện tích trồng sắn cũng tăng 100%, thay thế phần lớn diện tích trồng ngô ở những khu vực phía Bắc Zambia. Ngoài ra, đóng góp của bông cũng tăng từ 3% lên 6% và diện tích trồng bông tăng 65%. Theo một nghiên cứu của dự án an ninh lương thực, tỷ lệ phần trăm năng lượng của sắn được sản xuất bởi những người sản xuất nhỏ đã tăng từ 16% năm 1993 tới 31% năm 1999. Tuy nhiên, sản xuất sắn năm 2001-2002 đã giảm 12,4% so với năm 2000-2001.
Bên cạnh đó, những loại cây trồng thu hoa lợi khác cũng trải qua sự hồi sinh, đặc biệt là café và thuốc lá. Café và thuốc lá được trồng trên các trang trại thương mại có quy mô lớn, chủ yếu là ở các tỉnh miền Đông và một phần nhỏ ở các tỉnh miền Trung và miền Nam.
Ở các tỉnh phía Bắc, cả việc canh tác và làm cỏ trên đất đều được làm theo cách truyền thống là bằng tay và sử dụng cuốc. Sử dụng bò là rất hạn chế cho những mục đích như vậy. Ở các tỉnh miền Trung, miền Nam và miền Đông, việc trồng trọt và làm cỏ được thực hiện cả bằng tay và bằng sức kéo của bò. Ở miền Nam, việc sử dụng bò đã giảm mạnh trong những năm gần đây vì những tổn thất về gia súc do bệnh từ bờ biển phía đông.
Nhìn chung, nông dân ở các tỉnh phía bắc của đất nước sử dụng giống cây trồng nội địa có chất lượng thấp và tỷ lệ nảy mầm thấp. Ngược lại, hạt giống lai lại được sử dụng nhiều ở các tỉnh phía Nam của đất nước. Việc tiếp cận hạn chế với phân bón hóa học là một yếu tố cản trở các nông trại quy mô nhỏ trong 3-4 năm qua. Ở hầu hết các tỉnh miền Trung, Nam và Tây và Tây Bắc, việc tiếp cận hạt giống và phân bón có chất lượng tốt đều rất chậm chễ. Trong nhiều trường hợp, các yếu tố đầu vào quan trọng này không có sẵn cho tới tận tháng 12 hoặc tháng Giêng, kết quả là các vụ gieo trồng đều bị muộn gây ra những thiệt hại về năng suất và sản lượng.
2. Chăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành nông nghiệp khá quan trọng của Zambia, đóng góp 15,2% vào tổng thu nhập GDP của ngành nông nghiệp (theo thống kê năm 2004). Ngành chăn nuôi chủ yếu bao gồm chăn nuôi bò (ước tính đạt 2,5 triệu con năm 2001), cừu, dê và đóng góp 35% vào tổng sản lượng nông nghiệp. Cách đây một vài năm, Zambia đã xuất khẩu thịt bò sang các nước lân cận. Xuất khẩu sản phẩm động vật đã đạt 1,4 triệu USD năm 1995, 4,4 triệu USD năm 1999 và 3,1 triệu USD năm 2001. Tuy nhiên, đặc trưng của ngành chăn nuôi ở Zambia là tỷ lệ động vật tử vong cao, hiệu quả sinh sản, tỷ lệ tăng trưởng chậm và thấp. Chẳng hạn như, ở khu vưc phía Nam, khoảng 60% gia súc đã chết trong khoảng thời gian 5 năm (1996-2001) từ khi xuất hiện căn bệnh sốt từ bờ biển Đông. Một số lượng gia súc cũng chết trong hầu hết các khu vực miền Đông và Tây.
Gia súc (chủ yếu là bò)  là nguồn năng lượng dự trữ cho việc canh tác đất đai trong khi dê, lợn và gia cầm là nguồn thu nhập chính và là một nguồn thức ăn chính cho các hộ gia đình để đối phó với thời kỳ đói kém. Ở những khu vực phía Nam, nông dân đã bán hầu hết các vật nuôi nhỏ bé của mình để tồn tại sau những vụ mùa thu hoạch kém.
Mặc dù là lĩnh vực quan trọng đối với nền nông nghiệp Zambia nhưng năng suất chăn nuôi còn thấp. Nguyên nhân một phần là do vấn đề về nước uống và giá trị dinh dưỡng của những đồng cỏ tự nhiên thấp. Trong những năm gần đây, chính phủ Zambia đã thúc đẩy các chương trình nhằm kiểm soát bệnh tật, di chuyển gia súc tới những khu vực có nguồn nước ổn định, cải thiện đồng cỏ. Nhờ những chính sách này, ngành chăn nuôi đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được một phần nguồn cung-cầu trong nước và xuất khẩu.
Có thể nói, nền nông nghiệp của Zambia đã từng bước phát triển, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực của Zambia. Ngành nông nghiệp chiếm 67% tổng số việc làm, 25% tổng xuất khẩu và 21,9% tổng thu nhập GDP với những cây trồng có giá trị xuất khẩu cao như: thuốc lá, bông, café, đường, hoa… Chính phủ Zambia đang đề ra các chính sách mở rộng quan hệ hợp tác về lĩnh vực nông nghiệp với các nước trên thế giới nhằm phát triển, học hỏi kinh nghiệm,  kêu gọi viện trợ để phát triển nền nông nghiệp đang còn nhiều yếu kém của mình.
III. MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA NÔNG NGHIỆP  ZAMBIA CÓ KHẢ NĂNG HỢP TÁC VỚI VIỆT NAM
Trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay, Zambia gặp rất nhiều khó khăn thử thách. Nghèo đói, thiếu việc làm, dân số tăng nhanh trong điều kiện sản xuất nông nghiệp năng suất thấp, cơ sở hạ tầng nông nghiệp nhìn chung yếu kém và mức độ ảnh hưởng tiêu cực ngày càng tăng của biến đổi khí hậu là những thách thức lớn đối với Zambia. Do hơn 2/3 dân số Zambia  phụ thuộc vào nông nghiệp nên lĩnh vực này là quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Cải cách trong nông nghiệp - nông thôn là công cụ hữu hiệu để có thể đạt an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo và là động lực chính đối với tăng trưởng kinh tế. Việt Nam và nhiều quốc gia châu Phi nói chung và Zambia nói riêng có nhiều điểm tương đồng: cùng là các quốc gia đang phát triển, kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và tỷ lệ dân số có thu nhập chính từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp. Vì vậy, Việt Nam và các quốc gia châu Phi (trong đó có Zambia) đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt từ lâu đời. Ngày 15/09/1972, Việt Nam và Zambia bắt đầu thiết lập mối quan hệ ngoại giao cấp đại sứ. Năm 1975, Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng đã gặp Tổng thống K. Kaunda tại Hội nghị cấp cao của phong trào không liên kết ở La Habana. Tháng 12/1975, Zambia cử đoàn kinh tế vào thăm Việt Nam. Tháng 3/1995, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam thăm chính thức Zambia. Tháng 4/1998, Bộ trưởng Ngoại giao Zambia Keli S.Walubita thăm chính thức Việt Nam. Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trong đó dặc biệt là nông nghiệp.

     Về mặt khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Việt Nam và Zambia có thể xây dựng chương trình về hợp tác chuyên gia nông nghiệp. Các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam có thể giúp nông dân Zambia xây dựng mô hình trồng lúa, chuyển giao và hướng dẫn kỹ thuật chọn giống, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho lúa, cùng sản xuất với nông dân, lập đề xuất dự án thành lập trung tâm nghiên cứu, khuyến nông và sản xuất lúa gạo, tìm nguồn kinh phí hỗ trợ từ nước thứ ba, chuyển giao công nghệ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản, cung cấp cho Zambia những máy móc nông nghiệp nhỏ và những giống lúa cao sản.
Ngoài ra, Zambia và Việt Nam còn có tiềm năng hợp tác nông nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất lúa gạo, phát triển cao su, café, hạt điều, cây ăn quả, rau và nuôi trồng thủy sản. Zambia có thể nhập khẩu gạo từ Việt Nam bởi vì hiện nay Việt Nam đang là một trong những nước giữ vị trí xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới và giá gạo của Việt Nam rẻ hơn những quốc gia khác, phù hợp với tình trạng kinh tế của Zambia. Ngược lại, Việt Nam có thể nhập khẩu bông từ Zambia để phục vụ cho ngành dệt may trong nước. Thuốc lá cũng là một mặt hàng mà Zambia có thể xuất khẩu sang Việt Nam.
Nói chung, không chỉ Zambia mà hầu hết các quốc gia ở châu Phi có rất nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp. Cũng từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu nhưng Việt Nam đã vươn lên đứng trong “top” những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới và nông nghiệp đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Trong thời gian qua, giữa Việt Nam và Zambia đã có những hoạt động hợp tác trong một số lĩnh vực: Năm 2007 Việt Nam xuất khẩu chủ yếu hàng dệt may sang Zambia (ước tính đạt 4.6 triệu USD) và Việt Nam lại nhập khẩu từ Zambia 151.000 USD bông các loại. Thực tế cho thấy, nông nghiệp Zambia có nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam nhưng cả hai nước vẫn chưa khai thác hết tiềm năng đó do còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như thủ tục hành chính và phối hợp giữa các cơ quan của Zambia chưa được tốt, tình hình chính trị ở Zambia không ổn định gây nhiều bị động cho Việt Nam. Nhiều thỏa thuận hợp tác được ký kết nhưng chưa triển khai được nhiều do khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, có một số điều kiện cơ bản cho mối quan hệ hợp tác phát triển tốt là cả Đảng, Nhà nước Việt Nam và Zambia rất quan tâm, ưu tiên thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần xóa đói giảm nghèo. Chính phủ hai nước cũng đã có những cuộc hội thảo nhằm đưa ra định hướng phát triển, hợp tác cùng có lợi  trong lĩnh vực nông nghiệp trong tương lai.
Lê Bích Ngọc
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông