Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Quan hệ Việt Nam- Ai Cập trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao và văn hóa (Phần 2)
Ngày đăng: 13/03/2013

Nguyễn Thanh Hiền
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

     2. Các hoạt động và kết quả cụ thể trong hợp tác Việt Nam- Ai Cập về chính trị - ngoại giao và văn hóa
Những thành tựu đáng ghi nhận trong lĩnh vực chính trị- ngoại giao và văn hóa được phản ánh qua các hoạt động cụ thể. Kể từ sau khi quan hệ ngoại giao chính thức được thiết đặt và các bên đều mở Đại sứ quán tại thủ đô của nhau thì các cuộc gặp gỡ, thăm viếng cấp cao giữa hai bên đã diễn ra khá thường xuyên; đồng thời nhiều hiệp định, bản ghi nhớ … đã được hai bên ký kết, Ủy ban Hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam- Ai Cập (thường được gọi tắt là Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam – Ai Cập) đã được thành lập.
Có nhiều Bộ trưởng của Việt Nam đã sang thăm Ai Cập, chẳng hạn như Bộ trưởng Thủy lợi Nguyễn Cảnh Dinh năm 1993, Bộ trưởng Văn hóa- Thông tin Trần Hoàn năm 1994, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Công Tạn năm 1997, Bộ trưởng Thủy sản Tạ Quang Ngọc năm 2004, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển năm 2006, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng năm 2008.
Những đại diện ở cấp cao hơn của Việt Nam cũng đã đến Ai Cập. Đó là Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh năm 1994, Phó Chủ tịch Quốc hội Hà Phan năm 1995, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh năm 1997, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Đình Cự năm 2002…
Trong số các đoàn cấp cao của Ai Cập sang Việt Nam có thể kể ra các đoàn do Bộ trưởng dẫn đầu như Bộ trưởng Giáo dục năm 1996, Bộ trưởng Thương mại và Cung ứng  năm 1997, Bộ trưởng Bộ Hợp tác quốc tế năm 2007; các đoàn do Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao hay Thứ trưởng Bộ Ngoại giao các năm 1996, năm 2001, năm 2004; Đoàn đại biểu của Đảng Dân tộc Dân chủ Ai Cập cũng đã từng sang thăm Việt Nam năm 1997.
Kết quả của các cuộc trao đổi tiếp xúc giữa hai nước thông qua các phái đoàn đã được minh chứng bằng việc ký kết hàng loạt các hiệp định, các thỏa thuận và biên bản ghi nhớ. Cho đến nay Việt Nam đã ký với Ai Cập các hiệp định như: Chương trình hợp tác văn hóa các năm 1993- 1995, 2006- 2010; Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (ký năm 1996); Hiệp định hàng không (năm 1999); Biên bản hợp tác du lịch (năm 2006) và hàng loạt các hiệp định và văn bản khác trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả đáng ghi nhận khác là sự thành lập Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam- Ai Cập với 4 phiên họp đã được diễn ra, phiên đầu tiên vào tháng 9 năm 1997 tại Hà Nội, phiên thứ hai vào tháng 3 năm 2006 tại Cairo, phiên thứ ba vào tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, phiên thứ tư vào tháng 11 năm 2008 tại Cairo.
Nhìn vào thành phần của các đoàn cấp cao Việt Nam sang Ai Cập có thể nhận thấy rõ các lĩnh vực được hai bên chú ý tăng cường quan hệ. Cùng với lĩnh vực chính trị (đảng chính trị, quốc hội, ngành tư pháp, ngành ngoại giao…), cũng giống như nhiều nước khác ở châu Phi, Ai Cập chú trọng đến phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam trong nông nghiệp, thương mại, thủy sản, thủy lợi. Ngoài ra, do đặc thù của Ai Cập là đất nước có nền văn minh cổ đại phát triển với nhiều di sản văn hóa tầm cỡ thế giới nên ngành du lịch và bảo vệ di sản văn hóa là một thế mạnh của đất nước này. Chính vì vậy, họ sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam các kinh nghiệm trong lĩnh vực nói trên và mong muốn mở rộng cũng như phát triển quan hệ hợp tác du lịch, bảo tồn bảo tàng…
Trao đổi và chia sẻ các kinh nghiệm lập pháp, trị quốc là nhu cầu của hai nước. Các đoàn đại biểu quốc hội cũng vì thế mà đã thực hiện các chuyến công du sang đất nước của nhau. Nhiều Phó Chủ tịch quốc hội và cả Chủ tịch quốc hội của Việt Nam do vậy đã lần lượt sang Ai Cập trong những năm qua. Quan hệ chính trị song phương của hai nước được đẩy mạnh và phát triển bền vững thông qua hoạt động thảo luận và tư vấn chính trị (Political Consultation) giữa hai Bộ Ngoại giao mà phiên họp gần nhất là phiên thứ 6 đã diễn ra tại Cairo gần đây, cũng như thông qua hoạt động của Ủy ban Hỗn hợp với phiên sau nhất là phiên thứ 5 sẽ họp tại Hà Nội vào năm 2012 này. Kỳ họp thứ tư của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Ai Cập đã diễn ra tại Cairo tháng 11 năm 2008. Bên cạnh việc hai bên thông báo cho nhau tình hình phát triển kinh tế- xã hội, tình hình cải cách kinh tế và những thành tựu đạt được của mỗi nước thì tại phiên họp này hai bên đã sớm thống nhất thảo luận đàm phán ký kết Hiệp định miễn thị thực đối với hộ chiếu ngoại giao và hộ chiếu công vụ. Kết quả là hiện nay những người mang loại hộ chiếu nói trên không phải xin thị thực, điều này đã tạo điều kiện để các hoạt động trao đổi công tác của hai nước dễ dàng và thuận tiện hơn.
Kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban Hỗn hợp còn ghi nhận sự quan tâm của Ai Cập muốn thúc đẩy  mạnh hơn nữa quan hệ nhiều mặt với Việt Nam cũng như các đề xuất của Ai Cập mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể. Dầu khí, năng lượng mới và năng lượng tái tạo, công nghệ thông tin, công nghiệp, dược phẩm, thú ý… là những ngành mới được đề xuất bên cạnh những ngành hợp tác truyền thống đã phát triển bấy lâu nay. Các thỏa thuận hợp tác được ký kết trong kỳ họp này thuộc các lĩnh vực dầu khí, du lịch, hội chợ, triển lãm, phát triển doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Bên cạnh đó, hai bên còn nhất trí sẽ đàm phán để ký các thỏa thuận hợp tác về ngân hàng và vận tải biển.
Hợp tác trong lĩnh vực lập pháp là nét rất đáng chú ý trong quan hệ chính trị của hai nước. Ngoài các chuyến thăm của các quan chức Quốc hội cấp cao của Việt Nam như đã điểm ở trên thì gần đây nhất, có đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam do Chủ nhiệm Ủy ban Quan hệ đối ngoại Nguyễn Văn Son dẫn đầu đã sang thăm và làm việc tại Ai Cập từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 5 năm 2010. Phía Việt Nam nhấn mạnh đến lập trường của mình với tư cách là thành viên của ASEAN cũng như của cộng đồng quốc tế luôn muốn theo đuổi chính sách làm bạn bè với mọi dân tộc. Đặc biệt, trong tư cách là Chủ tịch của ASEAN và của AIPA (Hội đồng liên nghị viện ASEAN) trong năm 2010, Việt Nam đánh giá cao và mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác với Ai Cập. Phía Ai Cập cũng bày tỏ mong muốn đẩy mạnh quan hệ nói chung với Việt Nam và quan hệ giữa hai quốc hội nói riêng, đặc biệt chú ý đến sự hợp tác nhất trí  tại các diễn đàn nghị viện quốc tế cũng như thường xuyên trao đổi phái đoàn và thông tin về các vấn đề quốc tế cho nhau. Các bên nhấn mạnh đến việc phải ký kết các hiệp định, văn bản giữa hai nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng kinh doanh và trao đổi thương mại.
Tháng 12 năm 2010 tiếp tục có phái đoàn của Quốc hội Việt Nam do ông Nguyễn Văn Thuận - Chủ nhiệm Ủy ban luật pháp Quốc hội dẫn đầu sang Ai Cập để tìm hiểu hệ thống pháp luật và công việc của các cơ quan tư pháp. Mặc dù cơ cấu hệ thống nghị viện của hai bên khác nhau, song hai nước đều nhất trí và mong muốn trao đổi kinh nghiệm cho nhau để giúp nâng cao vai trò của Quốc hội Việt Nam, của Hạ viện (Hội nghị nhân dân) và Thượng viện (Hội đồng Shura) của Ai Cập trong các hoạt động lập pháp. Mối quan tâm của hai bên còn tập trung vào vấn đề cải cách hành chính, xây dựng nhà nước quản lý bằng pháp luật và xây dựng nền kinh tế thị trường. Ai Cập mong muốn đầu tư nhiều hơn nữa để cải thiện hiệu quả công việc quản lý của nhà nước.
Công tác thanh tra cũng thu hút được sự quan tâm của các bên. Nghị định thư hợp tác với Cơ quan giám sát hành chính Ai Cập đã được Cơ quan Thanh tra Nhà nước (tức Thanh tra Chính phủ hiện nay) Việt Nam ký từ năm 1997. Hai nước đã thường xuyên trao đổi đoàn trong lĩnh vực thanh tra để trao đổi và học tập kinh nghiệm của nhau.
Hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin đang là mục tiêu hướng tới của hai nước. Điều này được phản ánh qua cuộc gặp gỡ của Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hồng  tháng 8 năm 2010 với các đối tác tương ứng tại Ai Cập. Phía Việt Nam muốn tìm hiểu kinh nghiệm của Ai Cập trong việc tập trung các Trung tâm IT trên cả nước nhằm xây dựng một khu vực IT trong tương lai. Hai bên có quan điểm giống nhau trong vấn đề này và cho rằng có thể phối hợp và hợp tác với nhau để xây dựng cơ sở hạ tầng cho cả hai bên, đồng thời cũng lạc quan cho rằng mối quan hệ IT giữa châu Á và Ai Cập là tốt và đang được xây dựng. Phái đoàn của Việt Nam nhân dịp này đã tham quan khu IT nổi tiếng của Ai Cập là Smart Village, đây được coi là biểu tượng của mạng lưới IT hiện đại của Ai Cập. Vào thời điểm đó đã có một số lượng lớn các nhóm IT quốc tế và các công ty có tên tuổi đang đầu tư vào lĩnh vực IT của Ai Cập, trong đó có cả Tập đoàn Microsoft sử dụng Smart Village như một trung tâm  trợ giúp Xbox toàn cầu của mình. Thực sự, IT là một kênh quan trọng và đầy tiềm năng cho khả năng hợp tác của Việt Nam. Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel đã có những chyến đi khảo sát thực tế tại Ai Cập và tỏ ý sẵn sàng đầu tư hàng tỷ USD vào lĩnh vực truyền thông của Ai Cập.
Trong lĩnh vực du lịch có thể nói cả Ai Cập và Việt Nam đều có nhiều cơ hội và khả năng hợp tác với nhau. Ai Cập là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới đối với khách du lịch và cũng là một trong những nước đứng đầu trong lĩnh vực du lịch. Về phía mình, Việt Nam cũng có những điều kiện thiên nhiên hấp dẫn, đất nước xinh đẹp với bờ biển trải dài và những đặc thù văn hóa riêng biệt. Việt Nam khi được đầu tư đầy đủ và đúng hướng cũng có thể trở thành một trong những đất nước có sức thu hút mạnh khách du lịch quốc tế. Năm 2006 hai chính phủ đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch với mong muốn “tăng cường quan hệ hữu nghị và thúc đẩy sự hiểu biết về di sản văn hóa và lịch sử của Việt Nam và Ai Cập trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong việc phát triển quan hệ kinh tế và thúc đẩy các mối quan hệ giữa hai nước”2. Văn bản này là cơ sở pháp lý bước đầu để triển khai hoạt động hợp tác du lịch của hai nước. Một loạt các sự kiện tiếp theo sau đó đã diễn ra phản ánh những bước đi cụ thể của hai bên nhằm vào mục tiêu nói trên. Ví dụ việc tổ chức sự kiện “những ngày văn hóa” của Việt Nam tại Ai Cập (năm 2006) và của Ai Cập tại Việt Nam (năm 2009). Năm 2010 đã diễn ra “Tuần văn hóa Việt Nam tại Ai Cập” là cơ hội để Việt Nam quảng bá hình ảnh về đất nước, con người và văn hóa của mình trên đất Ai Cập thông qua các buổi biểu diễn nghệ thuật, qua các triển lãm và tọa đàm văn hóa. Tháng 9 năm 2011 Bộ Du lịch Ai Cập cùng với các doanh nghiệp lữ hành và hãng Hàng không quốc gia Ai Cập đã gặp gỡ và làm việc với Tổng cục Du lịch thuộc Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch Việt Nam để trao đổi ý kiến về các biện pháp hợp tác phát triển du lịch. Hiện nay, số lượng khách du lịch Việt Nam sang Ai Cập tăng lên đều đặn, đạt khoảng 1.500 khách/ năm. Phía Ai Cập có khoảng 1.000 khách/ năm đến Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng du khách như vậy còn rất khiêm tốn, nhất là khi so sánh với con số 15 triệu khách quốc tế đến Ai Cập chỉ riêng trong năm 20103 thì tỷ trọng khách du lịch Việt Nam là vô cùng nhỏ bé. Mặc dù các hoạt động du lịch vẫn còn chưa xứng với tiềm năng du lịch của hai nước, song tiềm năng và xu hướng phát triển của lĩnh vực này đầy hứa hẹn đối với cả hai bên trong tương lai. Bộ Du lịch Ai Cập mong muốn có những chương trình hợp tác phát triển du lịch cụ thể giữa hai nước để liên kết thu hút khách du lịch quốc tế và ký kết các chương trình hợp tác trong xúc tiến du lịch. Để tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích du lịch thì một trong những việc nên làm là tạo ra các ưu đãi cho khách du lịch, đơn giản hóa thủ tục visa và vận chuyển hàng không, lập tuyến bay trực tiếp không phải quá cảnh, đẩy mạnh công tác quảng bá du lịch… Đây cũng là phương hướng cho ngành du lịch của cả hai nước trong thời gian tới.
Ai Cập là đất nước có nhiều di sản lịch sử và văn hóa quý báu được UNESCO công nhận và xếp hạng là di sản thế giới. Công tác bảo tồn, di tu ở Ai Cập được đặc biệt chú trọng và họ có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Ai Cập có một chiến lược quốc gia về việc bảo vệ, duy tu, giữ gìn, phát triển các di sản của các nền văn minh Pharaonic, Roman, Greek, Coptic, Islamic và Arabic mà Ai Cập đang sở hữu. Họ có những dự án xây dựng các bảo tàng mới theo tiêu chuẩn như Đại Bảo tàng Ai Cập; các chương trình cập nhật thông tin và tư liệu khảo cổ học về các di sản văn hóa thông qua sự hợp tác toàn diện giữa Thư viện Alexandria, các Bộ về di tích cổ đại, văn hóa, thông tin và trung tâm tài liệu về di sản văn hóa và thiên nhiên; chương trình thắt chặt quan hệ hợp tác, phối hợp và đối thoại giữa các vị lãnh đạo Ai Cập với cộng đồng khảo cổ quốc tế, với các tổ chức quốc tế liên quan đến di sản nhân loại, đặc biệt là UNESCO. Đây cũng là những vấn đề Việt Nam đang rất muốn học hỏi kinh nghiệm của Ai Cập, nhất là hiện nay Việt Nam liên tục đề cử và được thế giới công nhận nhiều di sản văn hóa của mình. Rất cần có một chương trình hợp tác cụ thể về vấn đề này và Việt Nam nên hướng tới mục tiêu này.
Hợp tác về đào tạo cũng đã bước đầu được triển khai mặc dù quy mô còn nhỏ hẹp. Bắt đầu từ năm 1998 cho đến nay, phía Ai Cập cấp 5 xuất học bổng của chính phủ hàng năm cho Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện cho các thực tập sinh về chăn nuôi, thú y, bông, rau quả, bảo vệ thực vật, phát triển nông thôn… được Việt Nam cử đi được thực tập ngắn hạn tại Trung tâm Đào tạo nông nghiệp quốc tế Cairo. Ngoài ra, còn có gợi ý rằng Việt Nam có thể học hỏi Ai Cập về việc áp dụng mô hình chính phủ điện tử trong hệ thống giáo dục. Ai Cập áp dụng hệ thống này từ năm 2001 và họ cho rằng đã đạt được những hiệu quả rất tốt, có thể chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam cũng như có thể giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống giáo dục chính phủ điện tử như ở Ai Cập. Về vấn đề này Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Việt Nam nhân dịp sang Ai Cập tháng 6 năm 2008 đã có một số trao đổi với các Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Bộ phát triển hành chính của Ai Cập.
3. Đánh giá
Quan hệ Việt Nam- Ai Cập đã trải qua một chặng đường lịch sử khá lâu dài. Ai Cập là nước Arập đầu tiên thiết đặt quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Điều này chứng tỏ tình cảm, thiện ý cũng như tầm nhìn ngoại giao của nước cộng hòa Hồi giáo này đối với Việt Nam. Đã gần 50 năm trôi qua quan hệ hữu nghị của hai nước đã trở thành truyền thống tốt đẹp. Nhìn chung, quan hệ chính trị- ngoại giao Việt Nam –Ai Cập có thể nói là tốt đẹp, song thực chất nó cũng mới dừng lại ở chỗ chỉ mang đúng tính chất ngoại giao. Hai bên tuy có trao đổi các đoàn cấp cao trong các thời kỳ đã qua, song chưa có đoàn cấp nguyên thủ quốc gia nào sang thăm nhau. Trong lĩnh vực văn hóa, hai bên cũng đã mở ra các quan hệ trong một số mảng và ngành cụ thể như du lịch, giáo dục, đào tạo, bảo tồn di sản, trao đổi các đoàn nghệ thuật, công nghệ thông tin… Tuy nhiên, sự hợp tác trong các ngành này cũng chỉ là bước đầu. Nhìn vào thực tế của các hoạt động và kết quả cụ thể thì có thể khẳng định rằng quan hệ hợp tác của hai bên chưa xứng tầm với tiềm năng của mỗi nước. Quan hệ hợp tác kinh tế là mục tiêu hai nước đặt ra để phấn đấu thực hiện từ thập niên đầu của thế kỷ XXI cũng mới chỉ bắt đầu phôi thai khi giá trị kim ngạch trao đổi thương mại đến tận năm 2010 và  2011 vẫn chưa đạt đến con số 200 triệu USD. Những dấu ấn thật đậm nét trong quan hệ Việt Nam – Ai Cập thời gian qua hầu như vẫn còn vắng bóng. Có nhiều lý do để giải thích cho thực trạng này.
Trước hết do nhiều lý do khách quan nên hai bên chưa đặt đặt ưu tiên cho quan hệ hợp tác của hai nước. Ưu tiên đối ngoại của Ai Cập thời kỳ Tổng thống Mubarak là Mỹ và EU. Điều này cũng dễ hiểu vì Ai Cập là nước nhận được nhiều viện trợ của Mỹ và có nhiều lợi ích to lớn trong phát triển quan hệ kinh tế với EU- những nước bên kia bờ Địa Trung Hải. Việt Nam thì phải trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ để thống nhất đất nước rồi sau đó phải tập trung mọi nỗ lực để khắc phục khủng hoảng kinh tế trong nước. Quan hệ chính trị của Việt Nam và Ai Cập ở thời kỳ đó vẫn thiên về tình cảm do có những tương đồng nhất định như đã phân tích ở phần trên.
Thứ hai, do chưa có chiến lược và những chính sách phù hợp để thúc đẩy quan hệ hợp tác hai bên trong các giai đoạn cụ thể. Khoảng cách địa lý xa xôi, sự khác biệt về chính trị và văn hóa cùng sự hạn chế về thực lực kinh tế của cả hai nước khiến cho sức hấp dẫn lẫn nhau đều ở mức thấp, dẫn đến việc không đưa ra một chiến lược đối ngoại toàn diện và lâu dài cả từ hai phía.
Thứ ba, do chịu ảnh hưởng của tư duy chiến tranh Lạnh, thế giới chia làm hai phe. Những nước chịu ảnh hưởng và sự chi phối của Mỹ khó có thể có thiên hướng phát triển đối ngoại với những nước chịu ảnh hưởng và sự chi phối của Liên Xô.
Nhưng rồi, chiến tranh Lạnh kết thúc, toàn cầu hóa kinh tế nổi lên như một xu hướng chủ đạo của thế giới. Cục diện thế giới thay đổi sâu sắc khiến cho tất cả các quốc gia đều phải có những điều chỉnh trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của mình. Thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI cũng là lúc Việt Nam đưa ra một cách nhìn mới về châu Phi nói chung khi đưa ra Chương trình quốc gia phát triển hợp tác với châu Phi và tổ chức triển khai chương trình này trên thực tế trong cả thập niên qua. Bên cạnh đó đã cho ra đời nhiều tổ chức như: Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam- châu Phi, Hội hữu nghị và hợp tác Việt Nam- châu Phi, Viện nghiên cứu châu Phi và Trung Đông…, tổ chức các hội thảo quốc tế liên quan đến hợp tác Việt Nam- châu Phi. Sự mới mẻ ở đây chính là việc đặt quan hệ hợp tác kinh tế trở thành ưu tiên trong quan hệ bang giao của Việt Nam với châu Phi, phấn đấu để châu Phi trở thành thị trường trọng điểm mới của Việt Nam trong thế kỷ này. Ai Cập là một nước lớn của châu Phi với những khả năng và tiềm năng mạnh mẽ về chính trị, kinh tế và văn hóa cũng như vị thế của nước này trong châu Phi và trong thế giới Arập, là cửa ngõ đi vào châu Phi từ phía bắc. Chính vì vậy, tăng cường quan hệ chính trị và đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với Ai Cập là một hướng đối ngoại quan trọng của Việt Nam và cũng là mục tiêu Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.  
Về phía Ai Cập, đất nước này đang trong thời kỳ biến động sau Cách mạng tháng Hai năm 2011. Ông Hosni Mubarak lên cầm quyền tại Ai Cập từ năm 1981 đã phải từ chức như là một kết quả của cuộc cách mạng này. Đại sứ Ai Cập tại Việt Nam hiện nay – ông Reda Al-Taify nói rằng cuộc cách mạng tháng Bảy năm 1952 đã mang lại nhiều thành quả to lớn cho Ai Cập, song lại không thành công trong việc xây dựng sự công bằng xã hội cũng như trong việc xây dựng một cơ sở cho đời sống dân chủ chính trị cho Ai Cập. Đây cũng là lý do khiến cuộc cách mạng tháng Hai đã nổ ra. Cách mạng tháng Hai được thúc đẩy bởi phong trào quần chúng nhân dân với vai trò thủ lĩnh thuộc giới thanh niên bao gồm tất cả các lực lượng chính trị và các giáo phái của xã hội Ai Cập đòi hỏi phẩm giá, công bằng, tự do, dân chủ, một tương lai tốt hơn và một cái nhìn tích cực về một Ai Cập mới.
Hiện nay, Ai Cập tuyên bố đang theo đuổi con đường dân chủ trong cả hai cuộc bầu cử là bầu cử nghị viện và bầu cử tổng thống. Tuy nhiên, Ai Cập vẫn đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, trong đó nổi bật là sự bất ổn về chính trị, xã hội và sự giảm sút về kinh tế. Một nhà nước theo hướng nào vẫn đang là câu hỏi cùng với những lời đoán định và đường lối đối ngoại nào Ai Cập sẽ theo đuổi thì điều này lại phụ thuộc vào nhà nước và chế độ chính trị mà nhà nước đó xây dựng.
Tuy nhiên, với tất cả những gì mà Việt Nam có và Ai Cập có, cùng những gì mà quan hệ Việt Nam và Ai Cập đã có cho đến nay chúng ta có thể hy vọng vào một tương lai rất khả quan cho quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước. Những chấm phá và phác thảo đã được vạch ra cho chương trình hợp tác như đã đề cập ở trên, từ lĩnh vực chính ngoại giao cho đến văn hóa, khoa học kỹ thuật và đặc biệt là các khu vực ngành nghề khác nhau trong lĩnh vực kinh tế như thương mại, đầu tư, dầu khí, nông nghiệp, thủy sản, viễn thông…
Triển vọng về quan hệ Việt Nam- Ai Cập nếu theo quan điểm của ông Phạm Sỹ Tam- Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Ai Cập hiện nay sẽ là một bức tranh sáng khi ông cho rằng: “Mặc dù chính sách đối nội, đối ngoại của Ai Cập hiện vẫn chưa định hướng rõ ràng, nhưng chính quyền đã có nhiều thay đổi rõ rệt về chiến lược trong quan hệ với các nước châu Á, đặc biệt là Việt Nam… Ai Cập tỏ ý muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam”4. Lý giải về sự thay đổi này ông cho rằng “hiện giờ cán cân chính trị và kinh tế thế giới đang nghiêng về châu Á. Sự thay đổi này cũng phù hợp với tình hình của thế giới”.
Khi trở thành đối tác chiến lược của nhau, hy vọng quan hệ hợp tác của hai nước Việt Nam và Ai Cập sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp, xứng đáng với tiềm năng thực có của mỗi bên.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, soo2/2012