Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Israel (Phần 1)
Ngày đăng: 24/01/2014

Th.S Trần Thùy Phương
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông


 


1. Lý do Israel cần phải phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao

Người Israel về lập nước trên mảnh đất có diện tích rất nhỏ bé, lại không được ưu tiên cho những điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Hơn nửa diện tích đất đai của Israel là hoang mạc và bán hoang mạc, nửa còn lại là rừng và đồi dốc; trong đó, chỉ 20% diện tích đất đai là có thể trồng trọt, hơn một nửa trong số đó phải được tưới tiêu thường xuyên.

Israel nổi tiếng là quốc gia có khí hậu và điều kiện địa hình phức tạp, có nơi cận nhiệt đới nơi lại khô cằn, có khu vực thấp hơn mực nước biển 400m lại có những vùng là đụn cát, gò đất phù sa…. Tổng quỹ đất ở Israel được phân chia như sau: rừng 5,7%, đồng cỏ 40,2%, canh tác 21,5%, sa mạc, sử dụng vào những mục đích khác 32,6%. Ba khu vực canh tác chủ yếu ở Israel là đồng bằng ven biển phía bắc, khu vực đồi núi bên trong lãnh thổ và thung lũng Jordan. Địa hình đa dạng đó thích hợp để trồng nhiều loại cây khác nhau song không thuận lợi để trồng cây nông nghiệp vì quỹ đất canh tác quá nhỏ.

Như vậy, việc phải phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp trước hết bắt nguồn từ những lý do như: điều kiện tự nhiên khắc nghiệt không phủ hợp cho sản xuất nông nghiệp, nguồn nước mặt và lượng mưa đều hạn chế. Sau đó, trong điều kiện dân số tăng nhanh, lại thêm lượng người nhập cư đổ về ồ ạt cuối những năm 1980, nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm nông nghiệp gia tăng đáng kể. Israel phải nỗ lực lo đủ nông sản phục vụ dân số đang ngày càng tăng nhanh ấy, lại đặt trong bối cảnh nước này không có nguồn tài chính dồi dào để nhập khẩu nông sản từ các quốc gia khác. Do đó, Israel nhất thiết phải nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, phải phát triển nông nghiệp, mà là một nền nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ để cho ra các sản phẩm với số lượng và chất lượng tốt nhất.

Khu vực đất đai cằn cỗi nhất của Israel là hoang mạc Negev1. Hoang mạc này chiếm trên một nửa diện tích Israel. Hoang mạc Negev - không ai nghĩ nó có thể phù hợp cho sự sống, chứ chưa nói đến sản xuất nông nghiệp. Thung lũng Arava là phần khô cằn nhất của hoang mạc Negev, thung lũng này trải dài từ phía nam của Biển Chết đến Vịnh Eliat. Lượng mưa bình quân của khu vực này chỉ từ 20-50 mm mỗi năm. Nhiệt độ mùa hè bình quân ban ngày lên tới 400C, ban đêm là 250C; nhiệt độ mùa đông ban ngày là 210C, ban đêm chỉ từ 3-80C. Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng vỡ vụn, khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Biển Chết - địa danh rất quen thuộc với thế giới do sự kỳ lạ cũng như sự khắc nghiệt của nó; tuy nhiên, khí hậu quanh khu vực này còn khá hơn so với hoang mạc Negev nhờ có chút hơi ẩm từ biển... Còn Arava được coi là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Song thật bất ngờ, chính từ hoang mạc này, kỳ tích về nông nghiệp của Israel được tạo ra. Thung lũng Avara là niềm tự hào và kiêu hãnh của mọi người dân Israel, tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc - những phép màu thực sự do khoa học công nghệ mang lại.

Ngược lại lịch sử, vào năm 1959, một nhóm thanh niên Israel trẻ tuổi, nhiệt huyết, mang theo bánh mì và nước quyết tâm sẽ định cư tại thung lũng Arava. Khi đó, người ta đã cho rằng, đây quyết định “điên rồ” nhất bởi chính những nhà khoa học còn khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này. Tuy nhiên, sau đó, qua nhiều thế hệ, một cộng đồng đã được xây dựng, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. Tính đến tháng 6 năm 2011, dân số của khu vực này đạt khoảng 3.050 người với 700 hộ gia đình, trong đó 500 gia đình làm nghề nông; tổng diện tích đất đang sử dụng cho canh tác là 3.576 ha.

2. Chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Israel

2.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn -  Cơ quan cao nhất chỉ đạo mọi hoạt động của ngành nông nghiệp

Nhiệm vụ của Bộ là xây dựng và thực hiện các chính sách để tư vấn cho chính phủ Israel trong việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, tươi sạch cho nhân dân; bên cạnh đó là nhiệm vụ phát triển cộng đồng nông thôn, phát triển động thực vật gắn với việc bảo vệ môi trường. Israel đã xây dựng các nhiệm vụ rất cụ thể cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đưa cơ quan này trở thành một “đầu tàu” trong việc dẫn dắt, chỉ đạo, kiểm tra, khuyến khích các hoạt động nông nghiệp nói chung và công nghệ nông nghiệp nói riêng, vừa đảm bảo hiệu quả vừa rất cập nhật. Các nhiệm vụ chính mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cung cấp cho nông dân, bao gồm:

1. Hướng dẫn và đào tạo nghề: Đảm đương nhiệm vụ này là Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp mở rộng (AES - Agricultural Extension Services) với 3 mục tiêu chính: +) Hướng dẫn: Mục đích là cung cấp những kiến thức cập nhật về nông nghiệp cho nông dân. +) Đào tạo: Cung cấp những khóa đào tạo chuyên nghiệp, tập trung xây dựng những nền tảng kiến thức cơ bản cho nông dân về công nghệ mới. +) Khảo sát kiến thức nông nghiệp đã ứng dụng: hàng năm AES  phối hợp với nhiều đơn vị khác gồm Phòng Nghiên cứu nông nghiệp (ARA - Agricultural Research Administration), Học viện Công nghệ Technion, các đơn vị chuyên về R&D, các trường đại học… thực hiện hàng trăm cuộc thực nghiệm, khảo sát, nghiên cứu… ; mục đích chính là tìm ra các giải pháp cho những vấn đề đang “cấp bách” trên đồng ruộng, sau đó lại áp dụng chúng vào đồng ruộng. 

2. Bảo vệ đất: Chịu trách nhiệm là Phòng Bảo vệ tài nguyên đất (Soil Preservation Department) trực thuộc Bộ. Phòng này có nhiệm vụ hướng dẫn nông dân và giúp họ trong các hoạt động liên quan đến việc bảo vệ chất lượng và độ màu mỡ của đất, chống ngập lụt, chống hạn hán.

3. Trung tâm Thông tin Chiến lược (Information Center of Strategy Division): Trung tâm Thông tin Chiến lược có nhiệm vụ cung cấp các thông tin nghiên cứu chiến lược về kinh tế, cung cấp cho nông dân những thông tin hữu ích và cập nhật về thị trường nông sản toàn cầu và cả các thông tin về các đối thủ cạnh tranh của Israel.

4. Dịch vụ Thú y (Veterinary Services): Chức năng chính mà Dịch vụ Thú y cung cấp chính là bảo vệ sức khỏe vật nuôi, chống lại bệnh dịch…

5. Bảo hộ cho vật nuôi: Những năm gần đây, Bộ quan tâm nhiều đến việc bảo vệ vật nuôi, cả động vật làm cảnh, gia cầm, gia súc.

6. Kiểm soát và bảo vệ thực vật: Đơn vị chịu trách nhiệm là Cơ quan Kiểm soát và Bảo vệ thực vật (The Plant Protection and Inspection Services):  Nhiệm vụ chính của đơn vị này nhằm xây dựng, thực thi và giám sát các quy định trong lĩnh vực bảo vệ thực vật.

7. Sử dụng côn trùng thân thiện với môi trường: Để đảm bảo an toàn cho những yếu tố trên, Bộ đã ra nhiều quy định chặt chẽ về kiểm soát và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

8. Khuyến khích vốn đầu tư cho nông nghiệp: Chịu trách nhiệm chính là Hội đồng Đầu tư (Investment Directorate) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hội đồng này sẽ cung cấp một khoản tài trợ cho nông dân để tham gia vào các chương trình thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp.

2.2. Chủ trương phát triển các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu, các cơ quan R&D phục vụ nông nghiệp

Cơ quan nghiên cứu nông nghiệp đầu tiên được thành lập vào cuối thế kỷ XIX, năm 1870, có tên gọi là Mikveh Israel School. Đến năm 1921, Cơ quan Nghiên cứu nông nghiệp (Agricutural Station) được thành lập ở Tel Aviv, đây chính là đơn vị tiền thân của Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp Israel (ARO - Agricultural Research Organization).

Hiện nay, tại Israel có khoảng 10 cơ quan nghiên cứu nông nghiệp lớn, tiêu biểu là Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp (ARO - Agricultural Research Organization), Cơ quan Nghiên cứu nông nghiệp (hay còn gọi là Trung tâm Volcani) đều thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; khoa Nông nghiệp thuộc Trường Đại học Hebrew...

Trong các đơn vị đó, ARO là cơ quan nghiên cứu nông nghiệp tiêu biểu, chịu trách nhiệm tới 75% các nghiên cứu nông nghiệp toàn quốc và cũng được đánh giá là đơn vị hậu thuẫn cho các thành công vang dội về nông nghiệp của Israel trên trường quốc tế. Nằm trong sự giám sát và tọa lạc luôn tại khuôn viên Trung tâm Volcani, thuộc tỉnh Bet - Dagan; dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; ARO gồm 6 viện nghiên cứu chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, gồm: Viện Khoa học thực vật; Viện Khoa học động vật; Viện Khoa học bảo vệ thực vật, đất, nguồn nước và môi trường; Viện Kỹ thuật nông nghiệp; Viện Khoa học sau thu hoạch; Viện Khoa học thực phẩm. Ngoài ra, ARO còn quản lý 4 trạm nghiên cứu thực địa, nằm rải rác ở các tỉnh trên toàn quốc. ARO còn có nhiệm vụ như một trung tâm chuyên kiểm soát nông sản và thiết bị nông nghiệp. ARO cũng quản lý Ngân hàng Gen về nông nghiệp. Mục tiêu chính của các viện, trung tâm và trạm nghiên cứu của ARO tập trung vào các nhiệm vụ sau: +)Nông nghiệp trong điều kiện khô cằn; +)Nông nghiệp ở vùng biên giới; +)Công nghệ tưới nhỏ giọt và tưới bằng nước khử mặn; +)Trồng trọt trong điều kiện bảo vệ môi trường; +)Nuôi cá nước sạch trong điều kiện thiếu nước; +)Giảm thiểu hao hụt nông sản qua sử dụng phương pháp kiểm soát côn trùng và bảo quản sau thu hoạch; +)Nuôi trồng cây cối, động vật thích ứng tốt với các điều kiện địa lý khác nhau. 

Ngoài ra, hoạt động R&D cũng được thực hiện hiệu quả trong các lĩnh vực như nhân giống động thực vật, công nghệ xử lý đất và nguồn nước do các cơ quan nghiên cứu khác như Hiệp hội Nghiên cứu nông nghiệp thuộc Trung tâm Volcani, Khoa Nông nghiệp thuộc trường Đại học Hebrew… thực hiện.

2.3. Chính phủ đẩy mạnh đầu tư và thu hút đầu tư cho khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp

- Đầu tư kinh phí cho hoạt động R&D: Nguồn kinh phí đổ vào hoạt động R&D từ ngân sách chính phủ, chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm; từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp khác từ nước ngoài. Mặc dù hầu hết các khoản đầu tư lớn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) do chính phủ thực hiện là các dự án R&D về công nghệ thông tin, phần mềm, bán dẫn, y học; nhằm thúc đẩy khả năng ứng dụng các nghiên cứu vào thực tiễn, song trong đó cũng nhiều dự án R&D công nghệ sinh học, công nghệ vi sinh…, do đó nông nghiệp Israel cũng được hưởng lợi từ những dự án R&D như vậy. Vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm này có thể đổ vào cho các công ty khởi nghiệp2, các dự án R&D đang thực hiện hoặc mới chỉ là các dự án R&D khả thi. Năm 2011, tổng số kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai từ ngân sách ở Israel chiếm khoảng 4,4 %GDP, tương đương khoảng 10,8 tỷ USD3. 

Năm 1999, các công ty công nghệ cao tư nhân ở Israel đạt mức thu hút đầu tư là 1,003 tỷ USD từ cả vốn đầu tư mạo hiểm và các nguồn khác, tăng hơn nhiều so với 600 triệu USD năm 1998 và 430 triệu USD năm 1997; khoảng 43% tổng nguồn vốn đầu tư từ trong nước, số còn lại từ hải ngoại. Đến năm 2008, với dân số 7,1 triệu người, tổng vốn đầu tư mạo hiểm mà Israel thu hút được khoảng 2 tỷ USD. Như vậy, số vốn đầu tư mạo hiểm bình quân đầu người của Israel cao gấp 2,5 lần so với Mỹ, 30 lần châu Âu, 80 lần Trung Quốc và 350 lần Ấn Độ.

- Đầu tư mạnh cho nghiên cứu phục vụ nông nghiệp: Kinh nghiệm quan trọng nhất của Israel để xây dựng được một nền nông nghiệp hiện đại là đầu tư cho khoa học kỹ thuật, phục vụ trực tiếp cho phát triển nông nghiệp. Điều này không mới, nhưng nếu không có những quyết sách táo bạo, sự hỗ trợ của chính phủ thì rất chắc chắn không tạo hiệu quả. Israel là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu nông nghiệp thuộc loại lớn nhất thế giới. Tính theo con số tuyệt đối thì mức đầu tư này gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng hơn 3% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ các nguồn: do ngân sách nhà nước (50 triệu USD/năm), hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng (6 triệu USD/năm), khu vực tư nhân (25 triệu USD/năm). Nguồn kinh phí đó được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu vào, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai nghiên cứu. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức thù lao đủ để phát huy tối đa năng lực chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

- Đầu tư mạnh cho các dịch vụ công nghệ hiện đại phục vụ nông dân: Chính phủ cũng đầu tư mạnh để nông dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ hiện đại. Cuộc cách mạng viễn thông những năm 1990 đã đánh dấu một bước ngoặt khá lớn trong lĩnh vực liên lạc ở nông thôn, cụ thể là hầu hết người nông dân đã tiếp cận với điện thoại di động, sử dụng thành thạo mạng Internet để học tập các phương pháp gieo trồng hiện đại hơn và tìm nguồn tiêu thụ, tiếp thị cho các nông phẩm của mình. Để hỗ trợ nông dân, chính phủ đẩy mạnh việc quảng cáo, tiếp thị trực tiếp sản phẩm, đặc biệt là hoa và cây trang trí, sang các thị trường tiềm năng thông qua Internet… Do đó, đến nay, khoảng 60% tổng sản lượng hoa sản xuất ra được bán trực tiếp từ nông dân cho các nhà đấu giá hoa ở Tây Âu, 20% tiếp theo bán trực tiếp những người mua thông qua các nhà đấu giá, 20% còn lại bán buôn cho hầu hết thị trường truyền thống gồm Đông Âu, Tây Âu, Mỹ; chỉ một phần nhỏ bán sang châu Á - chủ yếu là Nhật Bản.

Kể từ sau khi tiến hành chuyển đổi nền kinh tế, đặc biệt từ đầu những năm 1990, chính phủ quan tâm rất lớn đến việc phát triển nông thôn, chú trọng vào chính sách phát triển nông thôn không chỉ đơn thuần làm nông nghiệp. Nông thôn Israel giờ đây không chỉ thu hút sự quan tâm của quốc gia mà của cả cộng đồng quốc tế bởi các yếu tố như đặc điểm lịch sử, khảo cổ học, di sản văn hóa phong phú gắn kết với các đặc điểm về cảnh quan sinh thái và vị thế của phát triển nông nghiệp. Nông thôn Israel giờ đây còn đủ khả năng cung cấp cả các gói dịch vụ du lịch bao gồm du lịch khám phá cảnh quan, du lịch biển, du lịch sa mạc, du lịch tham quan các nông trang Israel hiện đại…. Việc kết hợp du lịch với nông nghiệp vừa tạo đặc điểm riêng cho nông thôn Israel, vừa tạo sinh kế mới cho nông dân.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông tháng 11 năm 2013