Thứ ba, ngày 13 tháng 11 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Những quy định nhập khẩu vào thị trường Ai Cập (thời kỳ trước khi xảy ra phong trào Mùa xuân Arab) Phần 1
Ngày đăng: 06/03/2014

Khu mua sắm Khan El-Khahili lớn nhất ở Cairo với những cửa hàng đồ cổ san sát



     1. Chứng từ nhập khẩu
Bộ chứng từ cần thiết để thông quan lô hàng vào Ai Cập qua hải quan Ai Cập bao gồm:
·    Vận đơn đường biển (Bill of Lading – B/L) hoặc thư bảo lãnh (Letter of Guarantee – L/G)
·    Hoá đơn thương mại bản gốc (Original Commercial Invoice).
·    Hoá đơn chiếu lệ (Pro – forma Invoice).
·    Phiếu đóng gói (Packing Lists).
·    Bảng kê trọng lượng hàng hóa (Weight Lists)
·    Đơn bảo hiểm (Insurance Policy).
·    Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin) do Phòng Thương mại (Chamber of Commerce) của nước xuất xứ chứng nhận và do Đại sứ hoặc Lãnh sự Ai Cập tại nước xuất xứ chứng thực.
·    Giấy phép nhập khẩu của người nhập khẩu (đối với mặt hàng thuộc diện phải xin phép nhập khẩu).
·    Giấy chứng nhận đại lý uỷ quyền hợp pháp (Nếu người nhập khẩu làm đại lý cho một hãng sản xuất của nước ngoài).
- Ngoài ra, tuỳ vào hàng hoá nhập khẩu, người nhập khẩu sẽ phải xuất trình các giấy tờ khác. Ví dụ:
·    Nếu nhập khẩu hàng nông sản thì phải xuất trình giấy chứng nhận thực phẩm (Food Certificate)
·    Nếu nhập khẩu các chất phụ gia và các nguyên liệu sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm thì phải xuất trình giấy chứng nhận hoá học (chemical certificates).
·    Nếu nhập khẩu sản phẩm lông thú thì phải xuất trình giấy chứng nhận tiệt trùng (disinfection certificates).
·    Đối với một số sản phẩm phải xuất trình giấy chứng nhận quản lý chất lượng (quanlity control certificates).
·    Đối với một số sản phẩm bắt buộc phải xuất trình giấy chứng nhận vệ sinh (disinfection certificate).
·    Đối với sản phẩm từ động, thực vật buộc phải có sự kiểm tra của ban kiểm dịch nông nghiệp và ban kiểm dịch động vật.
·    Trong trường hợp nhập khẩu xe hơi, trong bộ chứng từ thông quan nhập khẩu sẽ phải có giấy chứng nhận của nhà sản xuất, số hiệu xe và các chi tiết kỹ thuật.
·     Đối với hàng dệt may, tên nhà sản xuất và nước xuất xứ phải được khắc rõ ở mép vải nếu vải dài từ 30 mét trở lên, phải xuất trình hoá đơn chiếu lệ và hoá đơn cuối cùng (pro-forma and final invoice) trên đó cần ghi rõ các thông tin về kích cỡ và chất lượng sản phẩm.
- Những chứng từ có thể tuỳ ý xuất trình hoặc không:
·    Thư của ngân hàng chứng tỏ đã thanh toán tất cả các chi phí hành chính. Nếu không xuất trình thư này thì người nhập khẩu sẽ phải trả tất cả các chi phí hành chính tại cảng.
·    Giấy chứng nhận bức xạ (Radination Certificate). Đây là giấy chứng nhận có thể sẽ phải xuất trình đối với hàng nông sản nhập khẩu…
2.  Giấy phép nhập khẩu
Từ tháng 7 năm 1993, Ai Cập đã bãi bỏ yêu cầu về giấy phép nhập khẩu hay yêu cầu có sự phê chuẩn của cơ quan chức năng trước khi nhập khẩu.Tuy nhiên hiện nay còn một số mặt hàng như sản phẩm từ động vật vẫn buộc phải có giấy phép nhập khẩu.
Ngoài ra, theo những thoả thuận song phương mới đây với Li-băng, Ai Cập yêu cầu việc nhập khẩu các mặt hàng sau phải có giấy phép nhập khẩu: xi măng (cement), thạch cao (gypsum, plaster), vôi sống (quick lime), thanh kim loại bằng đồng và thanh hợp kim (copper and alloyed wires), dây và cáp điện trần và dây cách điện (electrical and insulated electrical wires and cables).
3.  Các mặt hàng cấm nhập khẩu
Hiện nay, Ai Cập vẫn còn một số mặt hàng thuộc danh mục cấm nhập khẩu, lý do chủ yếu là để bảo đảm vệ sinh, y tế và an toàn. Những mặt hàng này gồm: chất hoá học độc hại, một số chất hoá học và thuốc trừ sâu; một số loại dược phẩm và những sản phẩm liên quan đến sức khoẻ khác; một số hàng nông sản như cây cối, da sống, động vật sống; ma tuý. Việc nhập khẩu máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, bình xịt (thuốc trừ sâu, nước hoa…) sử dụng những chất gây hại cho tầng Ozone cũng bị cấm nhập khẩu. Điều này thể hiện sự đóng góp của Ai Cập trong việc thực hiện Nghị định thư Montreal về việc loại bỏ những chất gây hại cho tầng Ozone.
Danh mục các sản phẩm bị hạn chế hay cấm nhập khẩu vào Ai Cập được thay đổi 6 tháng 1 lần.
4. Hạn chế nhập khẩu
- Giấy phép nhập khẩu:
Từ tháng 7 năm 1993, Ai Cập đã bãi bỏ yêu cầu về giấy phép nhập khẩu hay yêu cầu có sự phê chuẩn của cơ quan chức năng trước khi nhập khẩu.Tuy nhiên, hiện nay còn một số mặt hàng như sản phẩm từ động vật vẫn buộc phải có giấy phép nhập khẩu.
- Hạn ngạch nhập khẩu: Ai Cập không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu.
- Giám sát nhập khẩu: Ai Cập không áp dụng các quy định về giám sát nhập khẩu.
- Các rào cản kỹ thuật
- Kiểm dịch động, thực vật
- Yêu cầu về nhãn mác
- Các biện pháp về cán cân thanh toán
- Ai Cập không có quy định về hạn chế ngoại hối, cũng không hạn chế giao dịch ngoại hối.
Khi gia nhập WTO, Ai Cập đã cam kết thực hiện những biện pháp về cán cân thanh toán và cam kết xoá bỏ các quy định cấm nhập khẩu có điều kiện đối với mặt hàng dệt may, thêu và mỹ phẩm. Hiện nay việc nhập khẩu một số mặt hàng vẫn bị cấm hoặc bị hạn chế vì những lý do liên quan đến cán cân thanh toán. Nhưng xu hướng hiện nay là sẽ giảm dần danh mục các mặt hàng bị cấm/ hạn chế nhập khẩu, hoặc nếu có thì việc cấm hay hạn chế nhập khẩu cũng chỉ vì lý do an toàn sức khoẻ.
5.   Tạm nhập
Thị trường Ai Cập giữ một vị trí chiến lược ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Đây có thể là điểm trung chuyển để đưa hàng hóa Việt Nam thâm nhập sang các nước khác trong khu vực. Đặc biệt, thời gian qua Chính phủ Ai Cập đã thành lập một số khu thương mại tự do với nhiều điều kiện đầu tư và thương mại ưu đãi. Những khu thương mại tự do này đang buôn bán trực tiếp với gần 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất hàng trực tiếp hoặc đầu tư sản xuất tại các khu thương mại này, sau đó xuất khẩu vào Ai Cập và sang các nước khác.
6. Nhập khẩu hàng mẫu và tài liệu quảng cáo
Giấy chứng nhận số loạt (sản xuất)/số lô hàng (Batch Number Certificates (BNC)) là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các sản phẩm lương thực nhập khẩu nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc lấy mẫu sản phẩm. Trong quá trình dỡ hàng, mẫu sản phẩm sẽ được lấy ra một cách ngẫu nhiên từ các lô hàng/loạt sản xuất có ngày sản xuất khác nhau, thời hạn sử dụng khác nhau. Việc lấy mẫu này sẽ do một hội đồng tiến hành, các cơ quan giám định sẽ kiểm tra riêng từng mẫu một. Mỗi cơ quan kiểm tra sẽ chỉ đạo kiểm tra trong phòng thí nghiệm của mình. Việc kiểm tra có thể đồng thời tiến hành ở 3 phòng thí nghiệm khác nhau. Hội đồng lấy mẫu trong khi đưa mẫu về phòng thí nghiệm để phân tích, kiểm tra cũng cần phải áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo mẫu sản phẩm được giữ nguyên vẹn. Tất cả các thông tin về mẫu sản phẩm sẽ được ghi rõ trong mẫu ghi kết quả kiểm tra (Form of Examination Results).
Về việc lấy mẫu sản phẩm, bộ Y tế cũng có một số quy định sau:
- Lô hàng cần được xem xét độc lập.
- Một lô hàng cần phải được đánh dấu theo đúng số lô/cỡ và loại sản phẩm.
- Cần phải được phân bổ mẫu hàng giữa các phòng thí nghiệm để tránh việc sao chép/bắt chước.
- Tất cả các thông tin ghi trên nhãn đều cần phải ghi trên Tờ khai phân tích mẫu hàng (Sample Analysis Form).
- Nếu lô hàng nhập khẩu được gom từ nhiều nguồn khác nhau thì cần phải đánh số/mật mã lên mỗi nguồn hàng để dễ nhận biết.
7. Chính sách thuế và thuế suất
7.1. Thuế giá trị gia tăng
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu vào Ai Cập đều được tính thuế trên cơ sở giá nhập khẩu CIF.
Nói chung giá ghi trên hoá đơn sẽ được lấy làm giá tính thuế (dựa trên cơ sở sự đánh giá quan thuế- duty assessment), nếu như giá ghi trên hoá đơn trùng với giá bán cố định (fixed selling price). Giá cố định của một sản phẩm được lập căn cứ vào giá ghi trên hoá đơn thương mại của lần đầu tiên nhập khẩu sản phẩm đó vào Ai Cập. Nếu giá ghi trên hoá đơn thấp hơn giá cố định thì trị giá tính thuế sẽ là giá cố định và người nhập khẩu sẽ phải chịu thế bất lợi.
7.2. Thuế nhập khẩu
+ Từ năm 1991, theo chương trình cải cách kinh tế của IMF và Ngân hàng Thế giới, chính phủ Ai Cập đã giảm thuế nhập khẩu nhiều mặt hàng xuống còn từ 5 đến 40%, mặc dù một số mặt hàng như ô tô du lịch, thuốc lá, đồ uống có cồn và các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ khác chịu thuế suất cao. Tháng 2 năm 1994, Ai Cập thực hiện hệ thống thuế phối hợp (HS).
Từ ngày 1/1/1998, việc cấm nhập khẩu vải đã được dỡ bỏ, thay vào đó là thuế suất 54% cùng những rào cản khác nhằm loại bỏ mặt hàng vải nhập khẩu khỏi thị trường Ai Cập.
Từ ngày 1/1/2002, theo quy định của WTO, chính phủ Ai Cập đã dỡ bỏ việc cấm nhập khẩu mặt hàng cuối cùng – quần áo may sẵn. Tuy vậy, họ đã áp đặt các loại phí lên hơn 1.000 loại quần áo (một vài mặt hàng thậm chí chịu phí đến 300 USD/ 1 đơn vị sản phẩm).
+ Danh mục thuế hải quan chi tiết có thể xem trong: www.bitd.org
7.3. Thuế thu nhập (GTS)
Đây là một khái niệm được phát triển trong Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) nhằm khuyến khích mở rộng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến và sơ chế từ các quốc gia đang phát triển bằng cách tăng khả năng cạnh tranh cho các mặt hàng đó trên các thị trường của các quốc gia phát triển nhờ các ưu đãi một chiều về thuế.
Ngoài thuế nhập khẩu, các chi phí dịch vụ, thuế doanh thu cũng được áp dụng đối với một số hàng hoá/ dịch vụ nhập khẩu hay sản xuất tại địa phương. Thuế GST được đưa ra từ năm 1991 với mức thuế suất là 5% và 25% đối với hàng hoá, 5% và 10% đối với dịch vụ. Kể từ sau khi Ai Cập đổi mới chính sách năm 1992, tỷ lệ thuế 30% đánh vào hàng hoá đã được xoá bỏ, một số hàng hoá thuộc diện chịu mức thuế suất là 20% và 30% hiện nay chỉ phải chịu mức thuế doanh thu là 20%. Hàng hoá thiết yếu như lương thực thực phẩm cơ bản cũng như giấy in báo, giấy viết, tạp chí và một số loại dược phẩm được miễn thuế GST.
Nhiều mặt hàng nhập khẩu phải tính thêm thuế doanh thu (sales tax) từ 5% đến 25% vào trị giá tính thuế cuối cùng. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm lương thực thực phẩm, hàng nông sản đều được miễn loại thuế này.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 2/2013