Thứ tư, ngày 23 tháng 09 năm 2020
CHỌN NGÔN NGỮ:
Tài nguyên nước đối với sự phát triển kinh tế của Ai Cập
Ngày đăng: 31/07/2014

TS. Trần Thị Lan Hương
Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông



Hình ảnh Sông Nile

Tại Diễn đàn thế giới về nước lần thứ 4 tổ chức ở Mexico năm 2006, cộng đồng quốc tế đã nhấn mạnh đến việc quản lý và phát triển tài nguyên nước như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Đây là lần đầu tiên, tài nguyên nước được nhìn nhận một cách nghiêm túc với tư cách là một hàng hóa kinh tế. Mặc dù nước là một nguồn tài nguyên quan trọng, nhưng thời kỳ trước đó, cách tiếp cận về nước chỉ chủ yếu tập trung dưới góc độ an ninh và xã hội. Xét trên góc độ kinh tế, nước chưa được đánh giá đầy đủ vai trò và tác động đối với nền kinh tế. Tại Ai Cập, với những đặc điểm địa lý mang tính chất đặc thù, nước đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cũng nảy sinh rất nhiều vấn đề kém hiệu quả trong việc quản lý nguồn nước khiến chúng ta cần xem xét và rút ra bài học kinh nghiệm.
1. Vai trò của tài nguyên nước trong phát triển kinh tế
Nước là một tài nguyên có những đóng góp quan trọng trong xã hội loài người. Xét trên khía cạnh kinh tế, nước là đầu vào sản xuất cho hầu hết các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, du lịch…, khiến hệ thống kinh tế được vận hành thông suốt và hiệu quả. Mặt khác, nước cũng là một lực lượng mang tính hủy hoại, mang lại thảm họa cho con người thông qua các hiện tượng khô hạn, lũ lụt, xói mòn đất đai, sa mạc hóa, bệnh tật…, gây đình trệ kinh tế và đói nghèo. Xuyên suốt quá trình lịch sử nhân loại, nước còn là lực lượng gây ra tranh chấp, xung đột giữa các nhóm người sử dụng, giữa các quốc gia, làm mất an ninh kinh tế - chính trị - xã hội nghiêm trọng ở nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới. Hiện nay, vấn đề phát triển và quản lý nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nước đang trở thành trọng tâm của các quốc gia trên thế giới để đạt được tăng trưởng, phát triển bền vững và giảm nghèo. Đối với các nước phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng nguồn nước, xây dựng thể chế và năng lực quản lý nguồn nước là nhiệm vụ quan trọng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển nguồn nước và quản lý nguồn nước là ưu tiên hàng đầu. Còn đối với các nước kém phát triển, những thách thức trong việc quản lý nguồn nước đang khiến các nước này khó đạt được tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo bền vững.
Xét về mặt cầu, tiêu dùng nước là một loại tiêu dùng đặc biệt, trong đó đối tượng tiêu dùng có thể là cây cối, động vật, con người, ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp và nhiều đối tượng khác. Khác với các hàng hóa thông thường, phần lớn nguồn nước tiêu hao lại không qua kênh tiêu dùng (do biến đổi khí hậu) và nước có thể tái tạo trở lại sau một thời gian nhất định và ở một địa điểm nhất định. Chính vì vậy, lượng cầu về nguồn nước rất khó đánh giá bởi nó phụ thuộc vào số lượng đối tượng sử dụng, địa điểm phân bố, thời gian và chất lượng. Chẳng hạn, đối với con người, lượng cầu về nước cần sử dụng thường ít nhưng đòi hỏi chất lượng cao. Đối với cây cối, lượng cầu về nước đòi hỏi tùy thuộc từng loại cây trồng. Có những nơi sẵn có nguồn nước mặt, nhưng cũng có những địa điểm chỉ có các nguồn nước ngầm cần phải khai thác bằng máy móc. Cầu về nước cũng khác nhau theo mùa vụ. Xét về mặt cung, nước là hàng hóa rất khó xác định chính xác nguồn cung bởi nó phụ thuộc vào các yếu tố như: nguồn nước mặt, nước ngầm… Đối với nguồn nước mặt, nguồn cung phụ thuộc phần lớn vào khí hậu, trong khi đó khí hậu là hiện tượng thay đổi rất thất thường và khó dự đoán. Nguồn nước mặt và nước ngầm còn bị phụ thuộc vào rất nhiều đối tượng sử dụng (các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nước), giá trị sử dụng (tưới tiêu, nước uống), chất lượng nguồn nước (nước sạch hay nước bị ô nhiễm) ….Những đặc trưng khác biệt về cung và cầu nước cho thấy, nước là một hàng hóa dễ sử dụng, khó kiểm soát và khó đánh giá giá trị. Mặc dù có nhiều chức năng và có các giá trị kinh tế - xã hội quan trọng, nhưng trong một số khía cạnh nước không phải là một nguồn tài nguyên truyền thống mang tính chất trao đổi trên thị trường. Trong trường hợp nước được sử dụng với tư cách là một hàng hóa thương mại, thị trường cũng khó xác định giá cả của nước bởi nước thường liên quan đến môi trường lịch sử, văn hóa – xã hội và thể chế nơi mà nó được sử dụng và quản lý. Hơn nữa, mặc dù nguồn nước có thể bị chiếm đoạt hoặc bị chia sẻ, nhưng nước vẫn có khả năng tái tạo lại. Chính vì thế rất khó để xếp hạng nước vào thị phần của thị trường hàng hóa.
Ngay từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các nước công nghiệp đã tập trung đầu tư phát triển các đường ống dẫn nước và cơ chế quản lý nước để tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, giảm những rủi ro do nước mang lại và tăng hiệu quả sử dụng nước cho sản xuất và sinh hoạt. Đối với các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi các nước phải đầu tư mạnh mẽ cho cơ sở hạ tầng nguồn nước như thủy điện, hệ thống tưới tiêu, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời tránh những tổn thương do hạn hán và lũ lụt mang lại. Tại các quốc gia kém phát triển, do tác động tiêu cực của thời tiết, cộng thêm sự đầu tư ít ỏi và kém hiệu quả của chính phủ để quản lý nguồn nước, bù đắp cung – cầu nguồn nước do lũ lụt hoặc hạn hán, những thiệt hại kinh tế do nước là rất lớn. Do khó xác định cung – cầu về nước, nhiều nước đã không đảm bảo được an ninh nguồn nước của mình cho phát triển kinh tế -xã hội của đất nước mình.
2. Quỹ nước và tiêu dùng nước ở Ai Cập
Ai Cập là đất nước nằm ở khu vực Bắc Phi, phần lớn lãnh thổ là sa mạc và bán sa mạc. Lãnh thổ Ai Cập được chia làm 4 vùng chính: lưu vực sông Nile, sa mạc phía Tây, sa mạc phía Đông và bán đảo Sinai. Ai Cập có khí hậu nóng và khô, được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa đông se lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm, mùa hè nóng bức bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Sự khác biệt theo mùa được đo bằng nhiệt độ ngoài trời và mức gió hàng tháng. Ở các vùng ven biển, nhiệt độ thấp nhất là khoảng 140C vào mùa đông và nhiệt độ cao nhất là khoảng 300C vào mùa hè.  Ở các vùng sa mạc, nhiệt độ giao động rất mạnh, đặc biệt vào mùa hè nhiệt độ có thể là 70C vào ban đêm và 430C vào ban ngày. Vào mùa đông, nhiệt độ ở các vùng sa mạc có thể xuống thấp 00C vào ban đêm và 180C vào ban ngày. Là vùng đất khô và nóng, Ai Cập nhận được rất ít lượng mưa hàng năm. Mưa thường xuất hiện nhiều ở các vùng ven biển, các vùng ẩm ướt quanh Alexandria, với lượng mưa trung bình năm là 200 milimet. Alexandria là vùng ẩm ướt nhất ở Ai Cập, thủ đô Cairo cũng chỉ nhận được rất ít lượng mưa trong năm và vào mùa hè thủ đô Cairo có độ ẩm cao ở mức 77%, nhưng vào mùa đông độ ẩm ở Cairo rất ít.
Sông Nile cung cấp phần lớn nguồn nước cho Ai Cập. Đây là con sông dài nhất thế giới với tổng chiều dài 6800 km, chảy qua 9 nước là Rwanda, Burundi, Zaire, Tanzania, Kenya, Uganda, Ethiopia, Sudan và Ai Cập1. Ai Cập phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung về nước từ sông Nile. So với các nước lưu vực sông Nile, Ai Cập chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự thay đổi thời tiết bởi có tới trên 1000 km sông Nile thuộc về lãnh thổ Ai Cập. Quỹ nước của Ai Cập trong giai đoạn 2000-2010 là khoảng 62,8 tỷ m3 nước/năm, trong đó nước từ sông Nile thông qua đập Awsan Ai Cập là khoảng 55,5 tỷ m3 nước/năm, nước ngầm không thể tái tạo khoảng 5,8 tỷ m3 nước/năm, nước ngầm có thể tái tạo là khoảng 0,2 tỷ m3 nước/năm, nước mưa là 1,3 tỷ m3 nước/năm2. Như vậy, 88,3% lượng nước cung cấp cho Ai Cập là lấy từ sông Nile.
Xét về mức cầu, nước giành cho tiêu dùng đô thị giai đoạn 2000-2010 là khoảng 1,62 tỷ m3/năm, nước tiêu dùng công nghiệp khoảng 1,4 tỷ m3/năm và nước tiêu dùng cho nông nghiệp là 44,68 tỷ m3/năm. Hàng năm, Ai Cập thất thoát khoảng 15,1 tỷ m3/năm, trong đó 2 tỷ m3 nước/năm bị bốc hơi và 13,1 tỷ m3 nước/năm chảy ra biển.
Nhìn vào bảng cân đối cung cầu trên đây có thể thấy, nguồn cung về nước của Ai Cập cực kỳ hạn chế. Mức sử dụng nước trên đầu người của Ai Cập đã giảm từ 2.500 m3 nước/năm (thập kỷ 1950) xuống còn 750 m3 nước/năm hiện nay. Dự báo vào năm 2050, mức nước sử dụng trên đầu người ở Ai Cập chỉ còn là 250 m3 nước/năm. Theo đánh giá của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA), quốc gia nào có mức tiêu dùng nước/đầu người dưới 4.000 m3/người/năm sẽ là quốc gia bị thiếu nước. Với mức tiêu dùng như trên, Ai Cập là một đất nước vô cùng khan hiếm nước. So với các quốc gia Trung Đông khác, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ có mức tiêu dùng nước trên đầu người cao hơn Ai Cập, Lebanon có mức tiêu dùng nước trên đầu người tương tự như Ai Cập, trong khi đó Jordan và Libya có mức tiêu dùng nước trên đầu người thấp hơn.3
3. Chính sách ổn định và bảo vệ nguồn nước ở Ai Cập
Nước đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, sản xuất nông  nghiệp và công nghiệp. Do vấn đề an ninh lương thực, tăng trưởng dân số, yếu tố sử dụng hiệu quả nguồn nước được chính phủ Ai Cập đặt lên hàng đầu. Mặc dù nguồn nước mặt ở Ai Cập là sẵn có, nhưng mức cầu luôn lớn hơn nguồn cung khiến chính phủ phải đầu tư xây dựng những hệ thống kênh tưới tiêu. Tuy nhiên, mãi đến tận năm 1999, chính sách quản lý nguồn nước của Ai Cập mới đáp ứng được đầy đủ nhu cầu tưới tiêu trên đồng ruộng. Năm 2005, chính phủ thực hiện Kế hoạch tài nguyên nước quốc gia (National Water Resource Plan – NWRP), trong đó nhấn mạnh 4 vấn đề: Một là, hợp tác với các nước lưu vực sông Nile để tăng hiệu quả nguồn cung về nước, đặc biệt với các nước láng giềng và đang tiêu thụ nhiều nước gồm Sudan, Ethiopia; Hai là, giám sát, phát triển và tăng quỹ nước từ các nguồn khác nhau, bao gồm nguồn nước nông, nguồn nước sâu, nước ngầm nhiễm mặn…; Ba là, sử dụng tốt hơn các nguồn nước đang có, bao gồm việc nâng cấp và cải thiện hệ thống tưới tiêu ở các kênh đào sẵn có và sử dụng công nghệ tưới tiêu hiện đại; Bốn là, kết hợp phân bổ nguồn nước giữa các tổ chức khác nhau ở mức độ làng xã, quận. Nguồn nước phải được phân bổ công bằng và với mục tiêu là tiết kiệm nước.
Cùng với việc nỗ lực mở rộng nguồn cung về nước, Ai Cập đã tập trung tiết kiệm hiệu quả mức cầu sử dụng, đặc biệt là nước sử dụng cho nông nghiệp bởi nông nghiệp chiếm 71,1% mức cầu về nước một năm trong giai đoạn 2000-2010. Đặc điểm thổ nhưỡng ở Ai Cập cho thấy, chỉ có một phần nhỏ đất đai phù hợp cho phát triển nông nghiệp. Nguồn cung về nước hạn chế đã tác động trực tiếp đến sản lượng nông nghiệp, khiến diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ bị thu hẹp và nguy cơ mất an ninh lương thực hiện hữu. Để hạn chế thất thoát nước, Ai Cập đã đào các kênh cung cấp và dự trữ nước cho phát triển nông nghiệp và tiêu dùng. Cụ thể là, từ vùng hồ Nasser (Thượng Ai Cập) có 5 hệ thống kênh chính: Asfon, Kelabia, Đông Naghammadi, Tây Naghammadi làm chệch hướng đi của dòng nước sông Nile; trong khi đó kênh đào Toshka trực tiếp lấy nước từ hồ Nasser. Ở vùng Trung Ai Cập có 2 hệ thống kênh đào  lớn, đó là kênh Ibrahimia phân phối nước giữa các kênh đào nhỏ và để phục vụ cho một vùng đồng bằng rộng lớn ở khu vực Assiut. Các kênh đào nhỏ ở đây bao gồm kênh El-Minia, Beni Suef, Fayoum và Giza. Kênh đào lớn thứ hai ở vùng Trung Ai Cập là kênh Ismailia. Ở vùng Hạ Ai Cập, sông Nile được chia làm 2 nhánh chính gọi là Rosetta và Damieta, tạo nên sông Nile Trắng. Nhánh Rosetta bao gồm các kênh Menufia, Beheira, Nasser và Mahmodia; Nhánh Damieta bao gồm kênh Tawfikia và Alsalam, ở đó có vô số các kênh đào nhỏ4.
Những kế hoạch phát triển nguồn nước một cách bài bản đã giúp Ai Cập tiết kiệm được nguồn cầu, mở rộng nguồn cung cho phát triển kinh tế. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên nước Ai Cập (2005), do chú trọng đầu tư cho hệ thống quản lý nguồn nước, vào năm 2017 nguồn cung về nước ở Ai Cập có thể lên đến 87,9 tỷ m3 nước, trong đó nước sông Nile sẽ là 57,5 tỷ m3, lượng mưa là 1,5 tỷ m3, nước ngầm 11 tỷ m3, nước thải đô thị được tái sử dụng là 2,5 tỷ m3, nước thải nông nghiệp được tái sử dụng là 8,4 tỷ m3, hệ thống tưới tiêu được cải thiện cung cấp tới 7,0 tỷ m3. 5 Cùng với việc mở rộng nguồn cung, vào năm 2017 dự kiến Ai Cập sẽ tiết kiệm được khoảng19,1 tỷ m3 nước do những chiến lược cải thiện hệ thống tưới tiêu, áp dụng công nghệ trong quản lý nguồn nước.
4. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng nguồn tài nguyên nước ở Ai Cập
Trong số các nước khan hiếm nước ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông, Ai Cập được đánh giá là nước đạt được hiệu quả kinh tế cao do nguồn nước mang lại. Chẳng hạn so với Sudan và Ethiopia – là 2 nước cùng sử dụng nguồn nước sông Nile với Ai Cập, hiệu quả kinh tế từ tài nguyên nước của Ai Cập lớn hơn nhiều. Đây là 3 nước có mức tiêu dùng nguồn nước sông Nile lớn nhất trong tổng số 9 nước có sông Nile chảy qua, trong đó  vào năm 2000 Ai Cập tiêu dùng thêm 13,5 tỷ m3 nước sông Nile, Sudan tiêu dùng thêm 20 tỷ m3 nước sông Nile, Ethiopia tiêu dùng thêm 7 tỷ m3 nước sông Nile, tổng cộng 6 nước còn lại tiêu dùng thêm 8,8 tỷ m3 nước sông Nile6. Tuy nhiên, số liệu so sánh hiệu quả của tài nguyên nước ở 3 nước sử dụng chung dòng sông Nile là Ai Cập, Sudan, Ethiopia cho thấy Ai Cập sử dụng nguồn tài nguyên nước hiệu quả hơn so với hai nước còn lại trong một số lĩnh vực. Cụ thể, vào năm 2010, diện tích đất nông nghiệp ở Ai Cập chiếm 4% diện tích đất đai, trong đó có tới 92,5% diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu (trồng trọt được và có thể trồng trọt được), trong khi ở Ethiopia diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu chiếm 40%, ở Sudan chiếm 24%7. Mặc dù Ai Cập là đất nước có diện tích đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất đai nhỏ hơn rất nhiều so với Ethiopia và Sudan, nhưng năng suất nông nghiệp của Ai Cập không ngừng gia tăng trong giai đoạn 1990-2010 (tăng gấp 1,8 lần trong vòng 10 năm), trong khi Sudan giảm 1,8 lần, Ethipia tăng 2,2 lần. Tính theo giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân đầu người cho lao động nông nghiệp, năng suất nông nghiệp của Ai Cập năm 2010 đạt 3.265 USD/người, Ethiopia  đạt 226 USD/người, Sudan đạt 929 USD/người, Việt Nam đạt 367 USD/người. Nền nông nghiệp Ai Cập đạt giá trị gia tăng rất cao, thậm chí so với cả Việt Nam8. Nông nghiệp là ngành đóng góp quan trọng cho cả 3 nước Bắc Phi sử dụng chung dòng sông Nile, chiếm 14% GDP của Ai Cập năm 2010 (giảm so với 17% GDP năm 1990), tạo ra phần lớn việc làm cho khu vực nông thôn. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp của Ai Cập tương đối ít ỏi so với tổng diện tích đất đai, nhưng Ai Cập đã cố gắng mở rộng diện tích canh tác của mình trong 20 năm qua (1990-2010), góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho người dân. Tuy vẫn là nước nhập khẩu phần lớn lương thực, nhưng tỷ lệ nhập khẩu lương thực trong tổng kim ngạch nhập  khẩu ở Ai Cập đã giảm từ 25% năm 2000 xuống còn 19% năm 2010. Song song với đó là xuất khẩu lương thực của Ai Cập đã tăng dần lên, từ 8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 lên 17% năm 2010.
Mặc dù là đất nước khan hiếm tài nguyên nước, nhưng Ai Cập cũng đạt được hiệu quả cao trong việc cải thiện việc tiếp cận nước sạch và tiêu dùng điện năng của người dân. Số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2012 cho thấy vào năm 2010, có 99,5% dân số Ai Cập (tính chung cho cả thành thị và nông thôn) được tiếp cận nước sạch, trong khi Ethiopia là 82,5%, Sudan là 85,5% và Việt Nam là 96%. Nhìn vào đóng góp của tài nguyên nước cho hiệu suất điện năng của các nước, có thể thấy nước chiếm tới 87,7% sản lượng diện của Ethiopia, 47,8% của Sudan, trong khi chỉ chiếm 10,1% của Ai Cập. Tuy nhiên, vào năm 2010  dân số được tiếp cận điện của Ai Cập là 99,6%, Ethipopia là 17%, Sudan là 35,9%.
Những đánh giá trên đây cho thấy Ai Cập đã có những tiến bộ đáng kể trong việc quản lý nguồn tài nguyên nước, cải thiện sự đóng góp của nguồn tài nguyên này đối với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là vấn đề an ninh lương thực, an ninh nguồn nước ở Ai Cập. Do khan hiếm nước, Ai Cập vẫn phải chịu sức ép của việc mất an ninh lương thực do đất đai tiếp tục bị sa mạc hóa, thu hẹp dần diện tích trồng trọt. Ai Cập vẫn phải nhập khẩu tới 40% sản lượng lương thực, khiến người dân và nền kinh tế rất dễ bị tổn thương do biến động giá cả trên thị trường quốc tế, cú sốc nguồn cung do biến động trong và ngoài nước. Hiện tại, vẫn có khoảng 15 triệu người dân Ai Cập (trong tổng số khoảng 90 triệu dân) đang phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực do không đủ tiền để mua lương thực đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng9. Xét về thu nhập đầu người và tỷ lệ nghèo khổ, Ai Cập là nước có thu nhập đầu người đạt 6.500 USD10 vào năm 2011. Mặc dù Ai Cập đã đạt được chỉ tiêu về giảm tỷ lệ nghèo tuyệt đối, nhưng nhìn chung tình trạng nghèo khổ ở Ai Cập vẫn lan rộng. Theo báo cáo điều tra về chi tiêu và thu nhập hộ gia đình năm 2011 của Ai Cập, số người nghèo ở Ai Cập chiếm tới 25% dân số, tăng so với con số 21,6% của năm 200811. Khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền Ai Cập rất lớn, đặc biệt ở vùng thượng Ai Cập năm 2011 có tới 51% dân số thuộc diện nghèo khổ, trong đó người nghèo ở vùng thượng Ai Cập ở độ tuổi 18 - 29 là 44%. Đây là vùng tương đối khan hiếm nước so với các vùng khác trên cả nước.
Xét về khía cạnh an ninh nguồn nước, Ai Cập là quốc gia nằm ở hạ lưu sông Nile, luôn phải hứng chịu tình trạng ô nhiễm môi trường, phá hủy tài nguyên nước từ các nước vùng thượng nguồn và trung nguồn mang lại. Những tranh chấp về nguồn nước sông Nile có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào, và từ năm 1959 đến nay khi Ai cập và Sudan ký kết Hiệp ước quản lý sông Nile, vấn đề an ninh nguồn nước vẫn được chính phủ Ai Cập coi  là ưu tiên hàng đầu bởi nước là một nguồn tài nguyên chiến lược cực kỳ quan trọng trong khu vực. Vào năm 2011, Hiệp định khung hợp tác (Cooparative  framework  agreement – CFA) đã được ký kết giữa Ai Cập và 5 nước thuộc lưu vực sông Nile12 nhằm khôi phục lại quyền kiểm soát nguồn nước. Tuy nhiên, thách thức mang lại từ nguồn tài nguyên nước vẫn rất lớn đối với Ai Cập, đặc biệt khi Ethiopia và các nước thượng nguồn đang có kế hoạch xây dựng các dự án đập thủy điện, làm ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước và an ninh lương thực của Ai Cập.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 7/2013