Thứ tư, ngày 23 tháng 09 năm 2020
CHỌN NGÔN NGỮ:
Văn hóa Islam giáo ở Trung Đông (Phần 2)
Ngày đăng: 31/07/2014

Nguyễn Thu Hằng
Thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

3. Những thuộc tính của văn hóa Islam giáo

 

Các nhà thần học Islam giáo, dù có những cách diễn giải khác nhau về mặc khải trong Kinh Qur’an  nhưng có một điểm chung là thường hướng đến việc đề cao văn hóa Islam giáo. Một trong những luận điểm như vậy đã chỉ ra những thuộc tính căn bản sau đây của văn hóa Islam giáo:

 

1- Tính vững chắc (steadiness): Văn hóa Islam giáo dựa trên nền tảng của Kinh Qur’an, truyền thống của tiên tri Mohammed và những chân lí liên quan đến đức tin. Nó giúp người Islam giáo rèn luyện đức tính kiên nhẫn, tuân thủ và kiên định với con đường mình đã chọn. Với niềm tin sâu sắc rằng Allah luôn hiện hữu và làm chứng cho mọi việc làm của con người trên thế gian, tín đồ Islam giáo đề cao sự công bằng, liêm chính trong đời sống đạo cũng như đời, trong thực thi công lí theo những mặc khải bất dịch trong Kinh Qur’an .

 

2- Tính toàn diện và bổ sung (comprehensiveness): Văn hóa Islam giáo thể hiện tính toàn diện của mỗi cá nhân và tính bổ sung giữa người với người, giữa con người với Thượng đế của họ. Mỗi cá nhân đều thực thi nghĩa vụ của cuộc sống vì bản thân mình, vì người khác và vì Đấng Allah Tối cao. Trong Kinh Qur’an và truyền thống của tiên tri Muhammed, các vấn đề đức tin thường trùng hợp với vấn đề pháp lí, đạo đức Islam giáo cũng là thứ đạo đức xuất hiện trong diễn ngôn của Mohammed, một hành động bình thường trên thế gian có thể trở nên thiêng liêng và được thờ phụng nếu nó được làm vì lợi ích của Allah.

 

3- Tính cân bằng (balance): Tính cân bằng trong văn hóa Islam giáo xuất phát từ quan niệm rằng con người sinh ra là để thực hiện những mong muốn của Chúa trên trái đất này, phải không ngừng nỗ lực cân bằng giữa lí trí, tinh thần và thể xác để không lầm lạc, để báo đáp công ơn của Đấng Tối Cao đã tạo nên con người  họ.

 

4- Tính tích cực và cam kết (positiveness and commitment): Tính tích cực xuất phát từ sự nhận thức trách nhiệm và tầm quan trọng của mỗi cá nhân tín đồ trước Chúa. Mỗi tín đồ có nghĩa vụ tích cực và tự nguyện thực hiện công việc theo năng lực tự nhiên và tiềm năng sẵn có. Lười biếng và giả dối bị coi là tội lỗi. Sự xác tín (conviction) trong niềm tin Islam giáo thúc đẩy mỗi cá thể tự kiểm soát hành vi của chính mình như một sư cam kết bản năng trước Chúa, được hình thành bởi quá trình giáo dục niềm tin Islam giáo theo tinh thần của Qur’an và hệ giá trị truyền thống của người Islam giáo.

 

Dưới góc nhìn của một số học giả phương Tây hiện đại thì văn hóa Islam giáo có ba thuộc tính cơ bản sau:

 

1- Tính thực tiễn trong văn hóa (practicality): Hiện thực hóa tư tưởng tôn giáo trong đời sống là xu hướng chính của văn hóa Islam giáo.

 

Trước hết, ngay sự ra đời của Umma Islam giáo ở Medina vào thế kỉ VII cũng đã nói lên điều này, khi nó vừa là mô hình tổ chức tôn giáo, vừa đồng thời đóng vai trò pháp lí chính trong những vấn đề liên quan trực tiếp đến thế tục như tài sản, hôn nhân, gia đình, tòa án…

 

Thứ hai, họ cho rằng mặc dù từ ”Islam” có nghĩa là “tuân phục” nhưng những mặc khải trong Qur’an  không chỉ yêu cầu người Islam giáo hành động một cách thụ động, trông chờ vào số mệnh, mặc nhiên thụ hưởng những của cải Thượng Đế ban cho mình, mà phải nỗ lực hết sức để nhận biết chính mình và cải thiện nó theo những chiều hướng tích cực mà Đấng Tối cao đã chỉ ra. Những thành tựu trong văn hóa Islam giáo, những nỗ lực canh tân và cải cách trong văn hóa Islam giáo thời cận hiện đại ở một bộ phận tín đồ Islam giáo đã phần nào nói lên điều này.

 

Thứ ba, tín đồ Islam giáo tin rằng sứ mạng thực thi công bằng xã hội không thể thực hiện được nếu thiếu sự tham gia tích cực của người Islam giáo. Nhận thức về tính chất “vượt trội” của Islam giáo này mang một thông điệp hết sức quan trọng. Nó vừa là động lực giúp người Islam giáo nhiệt thành tham gia vào các hoạt động thực tiễn của đời sống với mưu cầu truyền bá lối sống Islam giáo và cứu rỗi cho chính mình, nhưng cũng chính bởi sự tự tôn mang tính chất Islam giáo truyền thống này mà nó trở thành rào cản đối với các phong trào cải cách Islam giáo hay là động lực thúc đẩy các hoạt động của trào lưu Islam giáo chính thống trong kỉ nguyên hiện đại.

 

2- Khuynh hướng phục cổ trong văn hóa (retrospectivity): Islam giáo là một tôn giáo có xu hướng phục cổ nổi bật nhất so với các tôn giáo khác trên thế giới. Người Islam giáo luôn có xu hướng nhìn lại thời kì vàng son đầu tiên trong lịch sử và họ tin rằng Mohammed là vị tiên tri cuối cùng, Kinh Qu’ran là sự mặc khải cuối cùng của Thượng Đế thay thế cho Cựu Ước và Tân Ước. Họ tin vào sự hoàn hảo của Islam giáo, nhìn nhận umma Islam giáo như  mô hình xã hội tốt nhất đối với xã hội Arab. Đây thực sự là rào cản cho sự hội nhập quốc tế của các xã hội Islam giáo, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, luật pháp và giao lưu văn hóa khi những vấn đề nghiêm trọng của thế giới Islam giáo luôn có xu hướng bị tách biệt như những vấn đề riêng không cần sự tham gia của luật pháp quốc tế. Xu hướng phục cổ trong văn hóa Islam giáo không chỉ bị giới chính trị gia, luật gia, giới học giả quốc tế phê phán mà còn nhận được những chỉ trích mạnh mẽ từ chính thế giới Islam giáo khi coi đó là một trào lưu tư tưởng dân tộc thái quá. Ý thức hệ về sự vượt trội của văn hóa Islam giáo làm nảy sinh rào cản tâm lí trong giáo dục Islam giáo, hạn chế tiếp thu những thành tựu mới của thế giới cũng như làm nảy sinh những khác biệt về khái niệm dân chủ nhân quyền giữa thế giới Arab với phần còn lại trong một bối cảnh toàn cầu hóa phong phú và đa diện như hiện nay.

 

3- Tính biểu cảm trong văn hóa (Expressivity): Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là khái niệm trung tâm của những biểu cảm nghệ thuật trong nền văn minh Islam giáo. Văn hóa Islam giáo được sinh ra từ văn hóa Arab, mang đậm dấu ấn của văn hóa Arab.  Kinh Qur’an được viết bằng tiếng Arab và truyền tải những liên lạc thần tính từ Thiên Chúa tới con người. Trong cuốn Thế giới Arab: Xã hội, Văn hóa, và Nhà nước, Halim Barakat, một học giả gốc Islam giáo đã mô tả xã hội Arab như một xu hướng tự phát và biểu cảm, phản ánh những xúc cảm sâu xa và niềm đam mê đặc biệt của người Arab với thơ ca, hình ảnh, ẩn dụ, và các biểu tượng.  Trên phương diện chính trị, tính năng tự phát và biểu cảm của văn hóa Islam giáo đã được các lãnh tụ Islam giáo sử dụng như một chiến lược để xuất hiện và chinh phục công chúng thông qua các thuyết giảng đầy lôi cuốn của mình. Việc chú trọng vào ngôn ngữ thuyết trình trước công chúng của các chính trị gia cũng như thói quen văn hóa ít chú ý đến tính chất hợp lí của những phát ngôn đối với thực tế của những hành động theo sau lời nói khiến người Islam giáo Arab trở thành nạn nhân của chính thói quen văn hóa đó. 

 

4. Những giá trị của văn hóa Islam giáo

 

Trong những biến cố chính trị xã hội mới đây tại Trung Đông, dường như yếu tố xung đột văn minh Đông - Tây đã bị lấn át trước sự bùng phát nhu cầu đòi thực thi công bằng xã hội của dân chúng. Theo sau nó là sự trỗi dậy của khát vọng hiệp nhất thế giới Arab chưa bao giờ tắt nơi những lãnh tụ một số đảng phái Islam giáo. Các học giả phương Tây đã có những tiếp cận mới mẻ về giá trị truyền thống và hiện đại của văn hóa Islam giáo như một trong những nguyên nhân chính làm nên sự hồi sinh sức mạnh Islam giáo ở Trung Đông.

 

Cũng tác giả Ye Qing trong một nghiên cứu về văn hóa Islam giáo và quan hệ quốc tế đã chỉ ra hai trụ cột chính của hệ giá trị tự thân Islam giáo (văn hóa Islam giáo nói riêng), đó là: Khát vọng cho sự hiệp nhất Islam giáo Mưu cầu thực thi công lí xã hội mà chúng tôi phân tích sâu hơn dưới đây.

 

4.1. Khát vọng cho sự hiệp nhất Islam giáo

 

Hướng tới sự đoàn kết Islam giáo là nguyện vọng trung tâm của hệ thống các giá trị Islam giáo. Căn nguyên gốc rễ của nó chính là bởi hành trình thống nhất thế giới Arab xưa kia được tiến hành trước tiên thông qua sự lan rộng của Islam giáo và văn hóa Islam giáo với những căn tính đặc thù của nó.

 

Thứ nhất, khát vọng hiệp nhất có liên quan trực tiếp đến niềm tin của người Islam giáo vào Allah. Những tín ngưỡng đa thần nguyên thủy tồn tại trong các xã hội thị tộc bộ lạc hết sức đa dạng trên bán đảo Arab đã được người Islam giáo thay thế bằng một tôn giáo độc thần tôn thờ Đấng Tối cao duy nhất của họ. Tín điều căn bản nhất trong Islam giáo mà bất cứ người Islam giáo nào cũng có nghĩa vụ thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc lìa trần, đó là tuyên xưng tính duy nhất của Thiên Chúa - Thượng đế tối cao của vũ trụ (Allah): “Nhân danh Allah, Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung. Mọi lời ca ngợi và biết ơn đều dâng lên Allah. Rabb (Đấng Chủ tế) của vũ trụ…(Ôi Alla!) chúng con chỉ thờ phụng một mình Ngài và chỉ với riêng Ngài chúng con cầu xin được cứu giúp(12). Lời tuyên xưng thường có sức hấp dẫn rất lớn, dễ dàng khơi dậy những cảm xúc tôn giáo sâu sắc nhất trong trái tim mỗi tín đồ Islam giáo.

 

Thứ hai, khát vọng hiệp nhất Islam giáo thông qua tôn thờ Thượng Đế tối cao với ý nghĩa các đạo hữu của Tiên tri Mohammed sẽ trở thành một gia đình thống nhất cũng mang một thông điệp văn hóa xuyên suốt dòng lịch sử. Trong Islam giáo, tình  huynh đệ như một tính chất bắt buộc của đức tin. Umma, hình thức tổ chức tôn giáo đặc biệt sớm định hình từ buổi đầu, đào luyện và kiểm soát mọi thành viên theo những quy tắc và chuẩn mực tôn giáo nghiêm ngặt như: Tuyên xưng Allah là Chúa duy nhất, Nghi lễ cầu nguyện 5 lần một ngày, tháng nhịn Ramadam, Bố thí theo giới luật, Hành hương, và đặc biệt là trong tinh thần Thánh chiến Jihad  vì đức tin Islam giáo. Việc thực hiện những quy định về giáo luật như thế cũng như đời sống tôn giáo “cộng sinh” gần như không tách biệt với đời sống xã hội đã tạo cho người Islam giáo một “cấu trúc văn hóa” đặc biệt gồm ba phần khó phân ranh giới: quy định tôn giáo, luật hình sự, và nguyên tắc của đời sống xã hội xoay quanh yếu tố hạt nhân là đức tin Islam giáo.

 

Năm 1923, Mustafa Kemal Ataturk (Thổ Nhĩ Kỳ), tiếp nối và phát triển tư tưởng thế tục Trung Đông đã bãi bỏ chế độ Caliphate đồng nghĩa với sự vắng mặt đầu tiên của biểu tượng về sự hiệp nhất Islam giáo trong xã hội dân sự ở Trung Đông. Tuy nhiên, các phong trào chính trị ủng hộ sự thống nhất của người Islam giáo trong một nhà nước Islam giáo vẫn không ngừng gia tăng ở khu vực Trung Đông và trên khắp thế giới từ đó đến nay, cho thấy lý tưởng về sự hiệp nhất này dù chưa được thực hiện nhưng vẫn luôn ảnh hưởng tới bản sắc cá nhân và cộng đồng của người Islam giáo, tới thái độ của họ đối với quốc gia dân tộc, tới niềm tin và hệ thống giá trị của họ

 

4.2. Mưu cầu thực thi công lí xã hội

 

Với người Islam giáo, Kinh Qu’ran không chỉ để đào luyện con người và nếp sống luân lí của tín đồ mà còn hơn thế nữa, nó có ý nghĩa là “Luật Thượng đế”, “Luật Con người”.

 

Công bằng xã hội được coi là cơ sở của hệ thống các giá trị trong xã hội Islam giáo. Nó được đặc biệt nhấn mạnh trong luật Sharia. Như đã nói ở trên, luật Sharia xuất phát từ những mặc khải thiêng liêng đến từ Thượng Đế, không có giới hạn và bao trùm lên mọi khía cạnh của đời sống, thể hiện nguyện vọng của người Islam giáo về công lí và trật tự trong xã hội Islam giáo truyền thống. Ở thời hiện đại, khi phân tích nguyên nhân gia tăng của các phong trào Islam giáo, hay còn được gọi là hiện tượng “hồi sinh Islam giáo” hiện nay, các học giả phương  Tây cho rằng không thể coi đó là những hồi tưởng đơn giản của người Islam giáo về nền văn minh trong quá khứ hay thậm chí là sự phản kháng của họ trước những bất công trong xã hội hiện tại mà phải xuất phát từ ý nghĩa chân thực nhất của Islam giáo về sứ mạng thực thi công lí và công bằng xã hội mà mỗi tín đồ chân chính có nghĩa vụ phải thực hiện. Đây chính là cơ sở cho tư duy và hành động theo những cách thức khác nhau của một số nhóm phái Islam giáo cấp tiến đương đại, trong đó có chủ nghĩa khủng bố Islam giáo nhân danh công lí.

 

 Kết luận

 

Từ những khía cạnh lí thuyết trên đây, chúng tôi rút ra một số nhận xét về nền văn hóa Islam giáo ở Trung Đông như sau:

 

Thứ nhất, dưới cái nhìn văn hóa, Islam giáo thực chất đã “không chỉ còn đơn giản là một tôn giáo và thậm chí cũng không còn là một cộng đồng như chúng ta vẫn nhìn nhận về nó, mà còn là nơi nương tựa của một nền văn minh mà nó đã thổi vào luồng sinh khí, hoặc ít ra nó đã tạo điều kiện cho những cách thể hiện tôn giáo, trí thức và nghệ thuật khác nhau. Nền văn minh này đã ngưng tỏa sáng để rồi chìm xuống từ cuối thế kỉ XVI, dưới sự đô hộ của đế chế Ottoman, trong một sự trì trệ mà chắc chắn phải đợi tới thời kì hiện đại mới được thức tỉnh”(13). Ngay trong sự thức tỉnh ấy, nền văn hóa Islam giáo cũng vẫn luôn là tâm điểm của những luồng tư tưởng trái ngược nhau, một đến từ phương Tây hiện đại, một dường như vẫn chưa bao giờ tìm cách thoát khỏi truyền thống “nông nghiệp và truyền khẩu” từ ngàn năm của mình.

 

Thứ hai, Islam giáo là một tôn giáo với số tín đồ đông đảo có mặt trên khắp hành tinh, vì thế văn hóa Islam giáo cũng hiện diện ở khắp các vùng lãnh thổ trên thế giới. Bên cạnh những giá trị không thể phủ nhận thì cũng còn nhiều tồn tại trong văn hóa Islam giáo khiến diện mạo của nó trở nên dị biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa hiện nay. Những cách diễn giải Qur’an cũng như định chế khắc nghiệt của luật Islam giáo được áp dụng ở một số xã hội Trung Đông đã tác động vào văn hóa và là nguyên nhân chính đưa đến tình trạng này.

 

Thứ ba, trong quá trình giao thoa văn hóa, Islam giáo của bán đảo Arab (Trung Đông nói chung) thâm nhập, tiếp thu, tự loại trừ và hấp thụ những bản sắc văn hoá bản địa, những tinh hoa của tôn giáo bản địa và không còn là văn hóa Islam giáo tinh tuyền, nhưng về cơ bản vẫn bảo toàn một không gian văn hóa Islam giáo và lối sống  Arab.

 

Thứ tư, quá trình giao thoa, truyền bá và hấp thụ văn hóa đã làm xuất hiện những yếu tố mới trong đức tin và văn hóa Islam giáo theo xu hướng cải cách hiện đại và không tránh khỏi những phản ứng mạnh mẽ từ phía những người Islam giáo chính thống làm nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ người Islam giáo và các xã hội có đông tín đồ Islam giáo sinh sống ở Trung Đông cũng như trên toàn thế giới.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông tháng 2 năm 2013