Thứ hai, ngày 17 tháng 12 năm 2018
CHỌN NGÔN NGỮ:
Phân tầng xã hội ở khu vực Bắc Phi – Trung Đông và hàm ý cho Việt Nam
Ngày đăng: 21/05/2014

Nguyễn Ngọc Trí

 

Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông



P hân tầng xã hội được định nghĩa là sự xếp hạng một cách ổn định các vị trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau. Trong phân tầng xã hội, mỗi tầng bao gồm những người có địa vị kinh tế - chính trị - xã hội tương tự gần với nhau. Hệ thống xếp hạng tôn ti trật tự này là sự bất bình đẳng đã ăn sâu vào cấu trúc xã hội và là thuộc tính của cấu trúc xã hội. Phân tầng xã hội thường được mô tả dạng các tháp phân tầng với những hình dáng khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của các mô hình xã hội. Trong lịch sử, tương ứng với các mô hình xã hội khác nhau, có những hệ thống phân tầng xã hội khác nhau, cụ thể là có các hệ thống phân tầng theo tháp hình nón (phản ánh mức độ bất bình đẳng cao của xã hội), tháp hình nón cụt (mức độ bình đẳng được tăng lên), tháp hình thoi (nhóm trung lưu chiếm đa số), tháp hình trụ (các tầng giàu, nghèo, trung lưu tương đối đồng đều) và tháp hình đĩa bay (xã hội công bằng, thịnh vượng). Ngoài ra, phân tầng xã hội còn được hiểu theo hai kiểu: +) Phân tầng đóng: là loại phân tầng diễn ra trong xã hội đẳng cấp, ở đó ranh giới giữa các tầng lớp trong xã hội được xác định rất rõ ràng và được duy trì một cách nghiêm ngặt. Các cá nhân không có cơ hội để thay đổi vị trí của mình từ tầng lớp này sang tầng lớp khác; +) Phân tầng mở: là loại phân tầng diễn ra trong xã hội có giai tầng, trong đó ranh giới giữa các tầng lớp rất linh hoạt, các cá nhân có cơ hội để thay đổi vị trí của mình sang tầng lớp khác.

Tại nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông như Ai Cập, Libya, Tunisia, Algeria, Saudi Arabia, hệ thống phân tầng xã hội hiện nay mang tính chất khép kín và ở dạng hình nón. Các nhóm xã hội đều có sự khác nhau cơ bản về địa vị chính trị, kinh tế, xã hội, học vấn, thu nhập, cách sống. Sự phân tầng này một phần ảnh hưởng từ những tập tục truyền thống và tôn giáo, nhưng mặt khác ảnh hưởng từ sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước Bắc Phi – Trung Đông vài thập kỷ gần đây. Cho dù ở mỗi nước, sự phân tầng xã hội có khác nhau một cách tương đối, tuy nhiên đặc trưng chung đều dựa theo dạng phân tầng theo tháp hình nón, trong đó nhóm người giàu có và quyền lực (phần đỉnh tháp) chiếm tỷ lệ rất thấp, trong khi đa số người dân lao động nghèo khổ (phần đáy tháp) chiếm tỷ lệ rất cao. Trong nhiều thập kỷ qua, cơ chế quản lý phân tầng ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông mang tính độc đoán, thống trị, bị ảnh hưởng của những quy định Hồi giáo nghiêm ngặt, vì vậy khiến nhóm người lao động và có địa vị thấp trong xã hội âm ỷ động cơ đấu tranh giai cấp. Các nước Bắc Phi – Trung Đông duy trì thứ bậc tôn ti trật tự cao thấp, xã hội phân chia thành nhóm/tầng lớp dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bất bình đẳng xã hội ở mức cao, song khả năng di động xã hội của tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội (công nhân, người lao động) lại hoàn toàn khép kín, nảy sinh vấn đề người dân mất niềm tin vào chính quyền và các quan chức chính phủ đã duy trì được chế độ chuyên chính độc đoán trong một thời gian dài. Điều đó khiến một số nước đã tiềm ẩn ý thức phản kháng, đấu tranh xã hội rồi bùng phát thành cuộc cách mạng sau nhiều năm khá ổn định. Những biến động chính trị xã hội do tác động của phong trào Mùa xuân Arab đã diễn ra tại nhiều nước Bắc Phi – Trung Đông từ đầu năm 2011 là một minh chứng rõ ràng nhất cho việc quản lý xã hội không hiệu quả. Cho đến nay, các nước Bắc Phi và Trung Đông vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý kinh tế, xã hội, trong đó có những thách thức không nhỏ trong quản lý phân tầng xã hội.

Tại Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, hệ thống phân tầng xã hội đang có sự phát triển và biến đổi cơ bản. Từ một xã hội truyền thống “hai giai, một tầng” bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, thì trong thời kỳ đổi mới kinh tế, trật tự và thứ bậc các tầng lớp xã hội ở Việt Nam đang có sự thay đổi, trong đó đã phục hồi và hình thành các tầng lớp xã hội mới như doanh nhân, tiểu thương, tiểu chủ, tạo nên những chuẩn mực ban đầu của một cơ cấu xã hội công nghiệp hiện đại. Khác với nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông, hệ thống phân tầng xã hội hiện nay ở Việt Nam mang tính chất mở và linh hoạt, trong đó mọi người dân đều có cơ hội thay đổi vị trí của mình trong xã hội. Tuy nhiên, những nghiên cứu của các nhà xã hội học Việt Nam và thế giới đều đánh giá mô hình phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai gần vẫn theo dạng tháp hình nón, với đa số nông dân và thợ tiểu thủ công nghiệp có mức sống thấp nhất nằm ở dưới đáy kim tự tháp. Đi cùng với tình trạng phân tầng xã hội mạnh mẽ là vấn đề bất bình đẳng xã hội ngày càng nới rộng phân hóa giàu nghèo, chênh lệch mức sống, nhiễu loạn các giá trị xã hội, sự giảm lòng tin của người dân vào chính phủ, dẫn đến những hành vi tiêu cực, bất mãn gây mất trật tự xã hội...

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: Xây dựng “chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy năng lực sáng tạo của nhân dân”, đồng thời “Xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi”. Để thực hiện được điều đó, rất cần phải có những biện pháp quản lý phân tầng xã hội một cách hiệu quả hơn nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội nâng cao địa vị kinh tế - xã hội, làm thay đổi cấu trúc phân tầng xã hội theo hướng trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm 2020-2030.

Mặc dù ở Việt Nam không gặp phải các vấn đề về quản lý xã hội như một số nước Bắc Phi và Trung Đông đang mắc phải, nhưng nhiều chuyên gia trong nước và thế giới khuyến cáo Việt Nam đang gặp phải những thách thức về sự đồng thuận xã hội bởi các nhóm/tầng lớp trong xã hội đang có sự khác biệt lớn về vị trí xã hội, mức sống, nghề nghiệp, học vấn,... Vì vậy, những vấn đề về ban hành chính sách và thực thi các chính sách đụng chạm đến các nhóm/tầng lớp trong xã hội rất khó tìm ra tiếng nói chung và nguy cơ xảy ra xung đột, mâu thuẫn rất cao. Các cuộc khảo sát, thống kê hàng năm của Việt Nam đã cung cấp những số liệu cho thấy sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư/tầng lớp trong xã hội ngày càng doãng rộng, cả về thu nhập, chi tiêu, giáo dục, y tế. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng, đặc biệt giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất (chênh khoảng 8,1 lần năm 2002, tăng lên đạt 8,9 lần năm 2008). Một công trình khảo sát của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) về an sinh xã hội ở Việt Nam cho thấy nhóm giàu nhất chiếm 20% số hộ gia đình ở Việt Nam nhận được 40% lợi ích từ an sinh xã hội, trong khi nhóm nghèo nhất chiếm 20% hộ gia đình ở Việt Nam chỉ nhận được chưa tới 7% lợi ích an sinh xã hội. Chênh lệch về tài sản ở Việt Nam trong những năm gần đây còn tăng nhanh hơn chênh lệch về thu nhập, với sự tích tụ của cải và nguồn lực của xã hội (đất đai, vốn, quyền khai thác tài nguyên, quyền kinh doanh ở một số lĩnh vực có lợi nhuận cao) ở quy mô lớn vào tay một số ít người, đồng thời làm cho nhiều người dân bị mất hoặc giảm mạnh tài sản của mình (nông dân mất đất canh tác). Tham nhũng, lãng phí lan rộng đang góp phần quan trọng tạo nên chênh lệch tài sản lớn hơn. Cùng với đó, bất bình đẳng về cơ hội là điều tất yếu bởi sự phân tầng trong đầu tư phát triển con người và giáo dục ở Việt Nam là rất lớn, trong đó người nghèo chiếm phần lớn dân số nhưng ít có cơ hội học tập và thăng tiến, không có cơ hội phát triển tinh thần và thể chất con người, có nguy cơ tụt hậu và khó thực hiện di động xã hội trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển. Cho đến nay, phân tầng xã hội ở Việt Nam vẫn là dạng hình nón và khả năng di động xã hội của người dân (đặc biệt là công nhân, nông dân) là rất thấp. Phần lớn người dân ở dưới đáy tháp phân tầng ít có cơ hội bứt phá và di động xã hội để thay đổi vị trí của mình trong tháp phân tầng bởi nhiều lý do khác nhau, dẫn đến tâm lý chán nản, mất niềm tin vào cuộc sống. Khi trong xã hội tham nhũng không được ngăn chặn, động lực phát triển xã hội bị triệt tiêu, sẽ tạo cơ hội làm tăng các yếu tố rủi ro, tiêu cực, cản trở sự ổn định và phát triển xã hội.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 3/2014